TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 66/2024/HSST Ngày: 24/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Huy Cường;
Ông Lý Khắc Chung.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn Thạnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Hoàng N, sinh năm 1998; Sinh quán tại huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú tại ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật giáo H1; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hoàng V và bà Nguyễn Thị D; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là người thứ ba; Vợ: Trân Thị Bích T; Con có 01 người sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 01/7/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trân Hoàng V, sinh năm 1968. Trú tại ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt).
- Người chứng kiến: Ông Võ Văn Q. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 01/7/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy - Công an huyện C phối hợp Công an xã M tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã M, khi đến khu vực câu V thuộc ấp M, xã M, huyện C thì phát hiện Trần Hoàng N điều khiển xe mô tô biển số 67D1-563.39 có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành dừng phương tiện kiểm tra phát hiện trong túi quân phía trước, bên phải của N đang mặc có 01 bọc nilon trong suốt hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Qua làm việc, N khai nhận khoảng 11 giờ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N điện thoại vào số 0842.766.xxx cho người nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua ma túy đá và hẹn địa điểm giao tại khu vực câu V với giá 300.000 đồng để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Ngày 09/7/2024, N bị khởi tố điều tra.
Tang vật thu giữ gồm: 01 bọc nilon trong suốt, hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng chứa chất nghi là ma túy (đã niêm phong); 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5, có gắn sim số 0782882485; 01 xe mô tô biển số 67D1-563.39 (đã trao trả cho Trần Hoàng V theo biên bản ngày 31/7/2024).
Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên N mượn xe gắn máy của ông Trần Hoàng V (cha ruột của N) nói dối là đi uống cà phê, N điêu khiển xe đến Câu V để mua ma tuý, sau khi mua chưa sử dụng thì bị Công an xã M phát hiện và lập biên bản.
Tại kết luận giám định số 898/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận:
- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi họ tên: Lê Minh H, Phạm Văn T1 và Trần Hoàng N. Bên trong có 01 bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,2281 gam (Không phẩy hai hai tám một gam) (ký hiệu M).
- Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,2281 gam (Không phẩy hai hai tám một gam).
Tại Cáo trạng số 60/CT-VKSCP ngày 21 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố Trần Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điêu 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Hoàng N khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, bị cáo nhận tội, không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trân Hoàng V trình bày phù hợp với nội dung vụ án. Xe mô tô biển số 67D1-563.39 là của V, bị cáo N mượn đi uống cà phê với bạn, V không biết N sử dụng xe đi mua ma tuý, hiện V đã nhận lại xe nên không yêu cầu gì đối với N.
Lời khai của người chứng kiến Võ Văn Q trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hành quyền công tố tại Tòa giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị:
- Trách nhiệm hình sự:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điêu 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Hoàng N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 01/7/2024.
+ Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng bên trong có 01 bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, qua giám định xác định là ma tuý loại Methamphetamie có khối lượng sau giám định là 0,2019 gam; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5, có gắn sim số 0782882485 của bị cáo dùng để liên lạc mua ma tuý.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình, làm lại từ đâu sống có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[1.2] Vê việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa người chứng kiến vắng mặt. Tuy nhiên, lời khai của họ đã có trong hồ sơ vụ án, lời khai này đã được công bố tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến phản bác và cũng không yêu câu triệu tập họ đến phiên tòa. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến là phù hợp với quy định tại Điêu 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về trách nhiệm hình sự:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người chứng kiến, Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 01/7/2024, phù hợp với kết luận giám định số số 898/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 12 giờ ngày 01/7/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy - Công an huyện C phối hợp với Công an xã M kiểm tra phát hiện Trần Hoàng N điều khiển xe mô tô biển số 67D1-563.39 có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành dừng phương tiện kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước, bên phải của N đang mặc có 01 bọc nilon trong suốt hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng, qua giám định dó là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng 0,2281gam, mục đích mua về để sử dụng thì phát hiện và bắt quả tang.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Trần Hoàng N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điêu 249 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 01 đến 05 năm (tội phạm nghiêm trọng).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[2.2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiên sự là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn huyện C các tội phạm về ma túy có chiêu hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là cân thiết, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội, cũng nhằm để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Do đó, xác định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật hình sự. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
[2.3] Về hình phạt bổ sung:
Xét, bị cáo thuộc thành phân lao động có thu nhập không ổn đinh nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng:
Vật chứng thu giữ được tại Cơ quan điều tra được xử lý như sau: 01 bọc nilon trong suốt, hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng qua giám định là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng sau giám định là 0,2019 gam. Xét, đây là vật cấm tàng trữ và không có giá trị, nên tịch thu để tiêu hủy, đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5, có gắn sim số 0782882485 của bị dùng để liên lạc mua ma tuý là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định tại các Điêu 46, Điêu 47 của Bộ luật hình sự, Điêu 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đối 01 xe mô tô biển số 67D1-563.39 Nam dùng làm phương tiện đi mua ma tuý, xe là của ông Trần Hoàng V đứng tên chủ sở hữu, ông V không biết việc N sử dụng xe đi mua ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã trao trả cho Trần Hoàng V (theo biên bản ngày 31/7/2024) là đúng với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí:
Bị cáo Trần Hoàng V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các vấn đề khác:
- Người thanh niên bán ma túy cho bị cáo Trần Hoàng N do chưa xác định được địa chỉ và chưa làm việc được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
- Trần Hoàng V không biết việc bị cáo Trần Hoàng N sử dụng xe mô tô biển số 67D1-563.39 để làm phương tiện phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
- Nguyễn Phi L hiện không có mặt tại địa phương chưa và làm việc được, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điêu 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điêu 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trân Hoàng N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 01/7/2024).
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điêu 46; Điêu 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điêu 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm 01 phong bì được niêm phong (vụ số 898/KL-KTHS ngày 08/7/2024) có in hình con dấu màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký tên Nguyễn Đăng K, Nguyễn Duy M, bên trong có mẫu vật được giám định là Methamphetamine, bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2019 gam; tịch thu hoá giá sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5, có gắn sim số 0782882485 của bị cáo.
Tất cả những vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
- Về án phí:
Căn cứ vào Điêu 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điêu 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Hoàng N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điêu 331 và Điêu 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Trần Hoàng N có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Mỹ |
Bản án số 66/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 66/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Hoàng Nam phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
