Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐỐP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 17-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều My

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Nhuận và ông Nguyễn Hùng Cường

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thuý Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/QĐXXST-HS ngày 30/5/2024, Thông báo dời lịch xét xử số 13/2024/TB-TA ngày 11/6/2024, Thông báo mở lại phiên toà vụ án hình sự số 01/TB-TA ngày 16/8/2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 01/6/2007 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thanh T1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/12/2023 đến ngày 07/02/2024, hiện nay đang bị bắt tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 06/QĐ-ĐTTH ngày 28/02/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Lâm Đồng - Có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Lý Quốc Đ, sinh ngày 17/9/2006 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Lý Minh K và bà Bùi Thị T2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/12/2023 đến ngày 07/02/2024, hiện nay đang bị bắt tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 06/QĐ-ĐTTH ngày 28/02/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Lâm Đồng - Có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Ngô Minh T3, sinh ngày 09/10/2006 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; con ông Ngô Đức H và bà Nguyễn Thị Kiều D1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/12/2023 đến ngày 07/02/2024, hiện nay đang bị bắt tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 06/QĐ-ĐTTH ngày 28/02/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Lâm Đồng - Có mặt tại phiên tòa.
  4. Họ và tên: Phạm Đức Đ1, sinh năm 2004 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Phạm Đức S và bà Trần Thị N; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/12/2023 đến ngày 07/02/2024, hiện nay đang bị bắt tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 06/QĐ-ĐTTH ngày 28/02/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh Lâm Đồng - Có mặt tại phiên tòa.
  5. Họ và tên: Nguyễn Đức M, sinh ngày 05/6/2007 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Đức D2 và bà Trần Thị Kim S1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/12/2023 đến ngày 07/02/2024 - Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Minh T3, Nguyễn Đức M, Lý Quốc Đ, Nguyễn Văn D: ông Đàm Văn Đ2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước - tỉnh B – Có mặt

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ngô Minh T3: ông Ngô Đức H (cha đẻ), sinh năm 1981; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Có mặt

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức M: ông Nguyễn Đức D2 (cha đẻ), sinh năm 1981; địa chỉ: ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Có mặt

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lý Quốc Đ: ông Lý Minh K (cha đẻ), sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Có mặt

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn D: Bà Võ Thanh T1 (mẹ đẻ), sinh năm 1991; địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Có mặt

Bị hại:

  • Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp I, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Vắng mặt
  • Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước – Vắng mặt
  • Ông Cao Hoàng T4, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Vắng mặt
  • Bà Nguyễn Thị Hồng T5, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp M, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước – Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Phạm Quốc V1, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp E, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước – Vắng mặt
  • Bà Đặng Thị Kim H2, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp E, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước – Vắng mặt
  • Ông Hồ Văn Q, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Vắng mặt
  • Ông Lý Minh K, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Có mặt
  • Bà Trần Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước – Có mặt
  • Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Có mặt
  • Ông Ngô Đức H, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Có mặt
  • Bà Võ Thanh T1, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 30/9/2023, Nguyễn Văn D (sinh ngày 01/06/2007) rủ Nguyễn Đức M (sinh ngày 05/06/2007), Lý Quốc Đ (sinh ngày 19/07/2006), và Ngô Minh T3 (sinh ngày 09/10/2006) đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, M, Đ, T3 đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số 93H1-336.14 chở M, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số 93G1-274.70 chở T3 cùng đi đến khu vực ấp T, xã P, huyện B. Khi đi đến nhà bà Vũ Thị H1, phát hiện nhà có cổng nhưng không đóng, trước sân nhà có 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển số 93T5-0372, không có người trông coi. Lúc này, Đ và D dừng xe đứng bên ngoài làm nhiệm vụ cảnh giới, T3 và M đi vào trong sân nhà dắt xe mô tô biển số 93T5-0372 ra ngoài đường, đấu nối dây điện xe để nổ máy rồi T3 điều khiển xe đến bãi đất trống bên đường H thuộc KP. T, TT. T, huyện B cất giấu. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/10/2023, D, T3, M, Đ cùng mang chiếc xe trên đến bán cho cơ sở thu mua phế liệu của chị Đặng Thị Kim H2 thuộc ấp E, xã H, huyện B được 600.000 đồng, chia nhau mỗi người 150.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 583/2023/KL-HĐĐTTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bình Phước, kết luận: xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số: 93T5-0372, số khung RLCS5C6408Y019291, số máy 5C64-019291, tại thời điểm ngày 30/9/2023 có giá trị 4.500.000 đồng.

Cơ quan điều tra còn xác định được Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ, Ngô Minh T3 và Phạm Đức Đ1 còn thực hiện 03 vụ Trộm cắp tài sản khác tại huyện B như sau:

  1. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 27/7/2023, Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ cùng với các đối tượng tên Đ2 (không rõ nhân thân, lai lịch), Q1 (không rõ nhân thân, lai lịch), B (không rõ nhân thân, lai lịch) rủ nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh (không rõ biển số) của Đ2 chở Đ2, B điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu xám (không rõ biển số) của mình chở D và Q1 cùng đi đến khu vực ấp I, xã T, huyện B tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến nhà ông Nguyễn Văn V, phát hiện phía trước hiên nhà có 01 xe mô tô hiệu Fusin, biển số: 93H3-8272, không có người trông coi. Lúc này, Đ và B dừng xe đứng ngoài đường làm nhiệm vụ cảnh giới để D, Đ2, Q1 đi vào trong sân nhà lấy trộm xe mô tô trên. Thấy xe có cắm sẵn chìa khóa, D mở khóa và nổ máy xe điều khiển đến bãi đất trống bên đường H thuộc KP. T, TT. T, huyện B cất giấu. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 28/7/2023, D, Q1 và B mang chiếc xe này đến bán cho anh Phạm Quốc V1 tại ấp E, xã H được 1.200.000 đồng, chia nhau mỗi người 240.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số 590/2023/KL-HĐĐTTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bình Phước, kết luận: xe mô tô Wave, nhãn hiệu FUSIN, màu đỏ đen, biển số: 93H3-8272, số khung TWCH014UM025355, số máy YG150FMH025355 tại thời điểm ngày 27/7/2023 có giá trị 2.750.000 đồng.

  1. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 02/10/2023, Lý Quốc Đ điều khiển xe mô tô hiệu Sonic, biển số: 93G1-274.70 chở Ngô Minh T3 và Nguyễn Văn D đi đến khu vực thôn F, xã T, huyện B chơi. Khi đi đến nhà chị Nguyễn Thị Á, phát hiện có 01 xe mô tô hiệu Sufat, biển số: 71K4-2541 của anh Cao Hoàng T4 đang để phía trước sân nhà và không có người trông coi, Đ, D, T4 nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, Đ dừng xe đứng bên ngoài làm nhiệm vụ cảnh giới, D và T4 đi vào trong sân nhà dắt xe ra ngoài đấu nối dây điện, nổ máy xe rồi T4 điều khiển xe mô tô trên đến khu vực bãi đất trống bên đường H thuộc KP. T, TT. T giấu. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 03/10/2023, D, Đ, T4 gặp Hoàng A (chưa rõ lai lịch), Q (chưa rõ lai lịch) nhờ bán giùm xe mô tô trên, Q, Hoàng A đồng ý. Sau đó, D đến bãi đất trống lấy xe mô tô biển số: 71K4-2541 rồi đi cùng với Q và Hoàng A đến tiệm S2 thuộc ấp T, TT.Thanh Bình bán cho anh Hồ Văn Q được 1.300.000 đồng. Số tiền này, Đ và T4 được chia mỗi người 300.000 đồng, D được 380.000 đồng, Hoàng A được 150.000 đồng, Q được 170.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 589/2023/KL-HĐĐTTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bình Phước, kết luận: xe mô tô hiệu Sufat, biển số: 71K4-2541, số khung PJ-010381, số máy: MG-010381 tại thời điểm ngày 02/10/2023 có giá trị 3.000.000 đồng.

  1. Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 06/10/2023, Nguyễn Văn D, Ngô Minh T3, Lý Quốc Đ và Phạm Đức Đ1 (sinh ngày 10/10/2004) cùng rủ nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Lý Quốc Đ điều khiển xe mô tô hiệu Sonic, biển số: 93G1-274.70 chở D, Phạm Đức Đ1 điều khiển xe mô tô hiệu Sonic, biển số: 93H1-336.14 chở T3 cùng đi đến khu vực ấp M, xã P, huyện B tìm tài sản để trộm. Khi đi đến nhà chị Nguyễn Thị Hồng T5, phát hiện phía trước sân nhà có 01 xe mô tô hiệu Daehan, biển số: 93F9-2081, không có người trông coi. Lúc này, Lý Quốc Đ và Phạm Đức Đ1 dừng xe đứng bên ngoài cảnh giới để T3 và D vào lấy trộm xe mô tô trên. Sau đó, T3 điều khiển xe đến vườn tiêu của Bùi Văn H3 thuộc ấp T, xã P, huyện B cất giấu.

Kết luận định giá tài sản số 588/2023/KL-HĐĐTTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Bình Phước, kết luận: xe mô tô kiểu dáng Wave, nhãn hiệu DAEHAN, biển số: 93F9-2081, số máy: VDMD100-0015132, số khung: LCG014DM-009132, tại thời điểm ngày 06/10/2023 có giá trị 2.750.000 đồng.

Tại phiên tòa:

- Đại diện VKSND huyện Bù Đốp giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ, Ngô Minh T3, Phạm Đức Đ1, Nguyễn Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, 101, 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 9-12 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, 101, 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lý Quốc Đ từ 8-10 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, 101, 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Minh T3 từ 8-10 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Đức Đ1 từ 6-9 tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, 101, 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M từ 6-7 tháng tù.
  • - Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của đại diện VKSND huyện Bù Đốp đã công bố, không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện VKSND huyện Bù Đốp và xin được giảm nhẹ hình phạt.
  • - Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn D, Ngô Minh T3, Nguyễn Đức M, Lý Quốc Đ thống nhất với nội dung luận tội của đại diện VKSND huyện Bù Đốp; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chương XII, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự cùng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 tháng tù, bị cáo Lý Quốc Đ 08 tháng tù, bị cáo Ngô Minh T3 08 tháng tù, bị cáo Nguyễn Đức M 06 tháng tù, bị cáo Phạm Đức Đ1 06 tháng tù.
  • - Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, không có ý kiến tranh luận.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không có ý kiến tranh luận, không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người làm chứng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

Ngày 30/9/2023 các bị cáo Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ, Ngô Minh T3 và Nguyễn Đức M đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển số: 93T5-0372 của bà Vũ Thị H1, trị giá 4.500.000 đồng;

Ngày 27/7/2023 các bị cáo Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu FUSIN, biển số: 93H3-8272 của ông Nguyễn Văn V, trị giá 2.750.000 đồng.

Ngày 02/10/2023 các bị cáo Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ, Ngô Minh T3 đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu SUFAT, biển số: 71K4-2541 của anh Cao Hoàng T4, trị giá 3.000.000 đồng;

Ngày 06/10/2023 các bị cáo Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ, Ngô Minh T3 và Phạm Đức Đ1 đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu DAEHAN, biển số: 93F9-2081 của bà Nguyễn Thị Hồng T5, trị giá 2.750.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Văn D chiếm đoạt là 13.000.000 đồng; bị cáo Lý Quốc Đ chiếm đoạt là 13.000.000 đồng; bị cáo Ngô Minh T3 chiếm đoạt là 10.250.000 đồng; bị cáo Nguyễn Đức M là 4.500.000 đồng; bị cáo Phạm Đức Đ1 chiếm đoạt là 2.750.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 25/4/2024 của VKSND huyện Bù Đốp và luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất mức độ của hành vi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Các bị cáo hoàn toàn nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy ý thức pháp luật kém nên cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Tình tiết tăng nặng: Do các lần trộm cắp đều đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên các bị cáo Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ, Ngô Minh T3 phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; cha mẹ các bị cáo Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ, Ngô Minh T3 đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được áp dụng cho các bị cáo.

Vụ án có tính đồng phạm đơn giản, trong đó bị cáo Nguyễn Văn D tham gia tất cả các lần trộm cắp và đóng vai trò thực hành tích cực nên phải chịu hình phạt cao nhất; bị cáo Lý Quốc Đ cũng tham gia tất cả các lần trộm cắp nhưng chủ yếu giữ vai trò giúp sức nên chịu hình phạt thấp hơn bị cáo D; bị cáo T3 tham gia ¾ vụ trộm nhưng là người thực hành tích cực nên chịu hình phạt tương đương bị cáo Lý Quốc Đ. Bị cáo Nguyễn Đức M và Phạm Đức Đ1 đều chỉ tham gia trộm 01 lần, bị cáo Nguyễn Đức M là người thực hành trong lần trộm đó, còn bị cáo Phạm Đức Đ1 đóng vai trò giúp sức nhưng lại là người thành niên phạm tội nên hình phạt của 02 bị cáo tương đương nhau.

[6]. Về vật chứng:

  • - 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số: 93T5-0372, số khung RLCS5C6408Y019291, số máy 5C64-019291; 01 xe mô tô hiệu Daehan, biển số: 93F9-2081, số máy: VDMD100-0015132, số khung: LCG014DM-009132, quá trình điều tra xác định xe là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị H1 và bà Nguyễn Thị Hồng T5. Ngày 07/12/2023, 05/4/2024 Cơ quan CSĐT trả lại cho chủ sở hữu là bà H1 và bà T5 là có cơ sở.
  • - 01 xe mô tô hiệu Fusin, số khung: TWCH014UM025355, số máy: YG150FMH025355, biển số: I, quá trình điều tra xác định xe là tài sản của ông Nguyễn Văn V. Các bị cáo đã lấy trộm và bán cho ông Phạm Quốc V1, sau đó ông V1 đã bán lại cho 01 người không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan CSĐT không thu hồi được nên không đề cập xử lý là có cơ sở.
  • - 01 xe mô tô hiệu Sufat, biển số: 71K4-2541, số khung PJ-010381, số máy: MG-010381, quá trình điều tra xác định xe là tài sản của ông Cao Hoàng T4, ngày 02/10/2023 ông T4 điều khiển xe đến nhà bà Nguyễn Thị Ánh C và bị mất trộm. Các bị cáo lấy trộm và bán cho ông Hồ Văn Q. Sau khi biết xe là của ông T4, ông Q đã trả lại xe cho ông T4 nên không thu giữ là có cơ sở.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, biển số 93G1-336.14, số máy: KB11E1282299, số khung: MH1KB1118MK282814, quá trình điều tra xác định xe là tài sản của bà Trần Thị N (mẹ ruột Phạm Đức Đ1), tại thời điểm mua xe năm 2021, bà N bị mất căn cước công dân nên đã lấy căn cước công dân của Phạm Đức Đ1 để đăng ký xe. Phạm Đức Đ1 tự ý lấy xe mô tô này làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Xét bà N không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại xe này cho bà N.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, biển số 93G1-274.70, số máy: KB11E1299114, số khung: MH1KB111XMK299520, quá trình điều tra xác định xe do ông Nguyễn Trường D3 đứng tên chủ xe. Năm 2022, ông D3 đã bán xe mô tô trên cho ông Lý Minh K (bố ruột Lý Quốc Đ) nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Lý Quốc Đ tự ý lấy xe mô tô này làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ông K không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại xe này cho ông K.
  • - Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội như sau: bị cáo D được chia 770.000 đồng, bị cáo Ngô Minh T3 được chia 450.000 đồng, bị cáo Lý Quốc Đ được chia 690.000 đồng, bị cáo Nguyễn Đức M được chia 150.000 đồng. Số tiền này các bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết, cần truy thu nộp Ngân sách Nhà nước.

[7]. Về trách nhiệm dân sự

  • - Bà Bùi Thị T2 (mẹ của Lý Quốc Đ) đại diện cho bị cáo Nguyễn Văn D và bị cáo Lý Quốc Đ đã bồi thường cho ông Nguyễn Văn V số tiền 2.750.000 đồng, ông V không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Bà Bùi Thị T2 (mẹ của Lý Quốc Đ) đại diện cho bị cáo Nguyễn Văn D, bị cáo Lý Quốc Đ, bị cáo Ngô Minh T3 đã bồi thường cho người liên quan Hồ Văn Q số tiền 1.300.000 đồng, ông Q không yêu cầu gì thêm.
  • - Các ông bà Bùi Thị T2, Ngô Đức H, Võ Thanh T1 không yêu cầu các bị cáo trả lại các khoản tiền đã bồi thường thay nên Hội đồng xét xử không xét.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim H2 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
  • - Bị hại ông Cao Hoàng T4, bà Vũ Thị H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Các vấn đề khác

  • - Đối với các đối tượng Đ2, Q1, B, các bị cáo khai là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của ông Nguyễn Văn V; Q, Hoàng A các bị cáo khai đã nhờ bán xe mô tô trộm của ông Cao Hoàng Trí . Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch các đối tượng này, Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau là có cơ sở.
  • - Đối với Phạm Đức Đ1, ngày 30/9/2023 đã cho Nguyễn Văn D mượn xe mô tô hiệu Honda, loại Sonic, biển số 93G1-336.14. Quá trình điều tra xác định Đ1 không biết D sử dụng xe để phạm tội nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có cơ sở.
  • - Đối với 02 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius (không rõ biển số), các bị cáo sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản ngày 27/7/2023, các bị cáo khai 02 xe mô tô này là của Đ2 và B, Cơ quan CSĐT chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng Đ2 và B nên không thu hồi được.
  • - Đối với ông Bùi Văn H3 là chủ vườn tiêu nơi các bị cáo cất giấu xe trộm cắp của bà Nguyễn Thị Hồng T5. Quá trình điều tra xác định ông H3 không biết các bị cáo trộm cắp xe và giấu xe ở vườn của mình nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý.
  • - Đối với bà Đặng Thị Kim H2, ông Phạm Quốc V1, ông Hồ Văn Q là những người đã mua lại xe mô tô trộm cắp của các bị cáo. Quá trình điều tra xác định các ông bà này không biết những tài sản mình mua là do trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có cơ sở.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xét đề nghị của người bào chữa của các bị cáo là phù hợp với luận tội của đại diện VKSND huyện Bù Đốp, với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ, Ngô Minh T3, Phạm Đức Đ1, Nguyễn Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, 101, 17, 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, 101, 17, 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Lý Quốc Đ 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, 101, 17, 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Ngô Minh T3 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, 101, 17, 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Phạm Đức Đ1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  1. Về vật chứng

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

  • - Trả lại cho bà Trần Thị N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, biển số 93G1-336.14, số máy: KB11E1282299, số khung: MH1KB1118MK282814.
  • - Trả lại cho ông Lý Minh K 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, biển số 93G1-274.70, số máy: KB11E1299114, số khung: MH1KB111XMK299520.
  • - Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn D 770.000 đồng, bị cáo Ngô Minh T3 450.000 đồng, bị cáo Lý Quốc Đ 690.000 đồng, bị cáo Nguyễn Đức M 150.000 đồng nộp Ngân sách Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 0007911 ngày 25/4/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục THADS huyện B)

  1. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm

  1. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND huyện Bù Đốp
  • - Chi cục THADS huyện Bù Đốp;
  • - Công an huyện Bù Đốp;
  • - Bị cáo, bị hại, đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kiều My

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D, Lý Quốc Đ, Ngô Minh T, Phạm Đức Đ1, Nguyễn Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger