|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Hoàng
Bà Nguyễn Thị Minh
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Dương Thị Thủy – Thư ký Tòa án
nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên
toà: Ông Nguyễn Nhật Hoàng Tân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh – tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/HSST, ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1983 tại tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Nguyễn Văn V (chết) và bà Nguyễn Thị H1; Có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam kể từ ngày 04/7/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Các bị hại:
- Ông Nguyễn Đức Anh K, sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Khu D, thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1973; Nơi cư trú: 25/4 Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Hoàng Đình H2, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Đức Thành T1 (chết):
- Bà Nguyễn Thị Thu V1, sinh năm 1978; Nơi cư trú: 31/18, Tổ dân phố G, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt tại phiên tòa.
- Bà Hồ Thị M, sinh năm 1939; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh
Quảng Ngãi.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thu V1 và bà Hồ Thị M: Ông Lê Đức T2, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Số A D, phường P, thành phố N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Ông T2 có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Tấn D (chết):
- Bà Vương Thị C, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Số F N, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bà Vũ Thị Thanh T3, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Vương Thị C: Bà Vũ Thị Thanh T3, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Bà T3 có mặt tại phiên tòa.
* Nguyên đơn dân sự: Ông Ngô Bảo N, sinh năm 1986; Nơi cư trú: 85/11/6 Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt tại phiên tòa ngày 07/6/2024, xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 12/6/2024.
* Bị đơn dân sự: Ông Vũ Văn N1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm C, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Cháu Nguyễn Hoàng M1, sinh ngày 03/3/2010; Nơi cư trú: 31/18, Tổ dân phố G, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Cháu Nguyễn Đức Thành N2, sinh ngày 12/4/2017; Nơi cư trú: 31/18, Tổ dân phố G, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 28/5/2013; Nơi cư trú: 31/18, Tổ dân phố G, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Hoàng M1, Nguyễn Đức Thành N2 và Nguyễn Hoàng P: Bà Nguyễn Thị Thu V1, sinh năm 1978; Nơi cư trú: 31/18, Tổ dân phố G, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà V1 có mặt tại phiên tòa.
4. Cháu Nguyễn Vũ Gia P1, sinh ngày 14/11/2012; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
5. Cháu Nguyễn Vũ Gia H3, sinh ngày 15/4/2019; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Vũ Gia P1 và Nguyễn Vũ Gia H3: Bà Vũ Thị Thanh T3, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Bà T3 có mặt tại phiên tòa.
6. Ông Nguyễn Văn V2, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn E, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.
7. Bà Nguyễn Thị Hoài P2, sinh năm 1982 và ông Chu Văn H4, sinh năm
1977; Cùng cư trú: Số A, tổ G T, khối T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt tại phiên tòa.
8. Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ; Địa chỉ: Số A H, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
Người đại diện hợp pháp của Công ty:
- Ông Nguyễn Văn H5, sinh năm: 1982; chức vụ: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc; Nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình.
- Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1984; chức vụ: Giám đốc; Nơi cư trú: Thôn A, xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
9. Bà Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Trần Hải H6, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Mạnh L; sinh năm 1982; Nơi cư trú:Thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Tấn D1, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 31 phút ngày 23/6/2023, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 12C-077.61 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 12R-008.31 chở Vũ Văn N1 và Hoàng Đình H2 đi trên cao tốc N - Cam Lâm hướng N - C.
Khi đến khu vực Km48+100 cao tốc Nha Trang - C thuộc thôn G, xã C, thành phố C (là đoạn đường cong từ trái sang phải, có dải phân cách cố định ở giữa chia thành hai phần đường, mỗi phần đường có 02 làn đường); H điều khiển xe đi giữa hai làn đường. Theo H khai nhận: H nhìn thấy phía trước khoảng 30m có đám bụi lớn trên đường, tầm nhìn bị hạn chế nhưng vẫn tiếp tục điều khiển xe đi qua khỏi đám bụi.
Cùng lúc này, Nguyễn Tấn D điều khiển xe ô tô 51H – 638.90 (loại xe 04 chỗ) chở Nguyễn Đức Thành T1, Nguyễn Văn T7, Nguyễn Đức Anh K đi cùng
chiều phía trước xe ô tô của H và đi trên làn đường sát dải phân cách cố định. H điều khiển xe ô tô va vào phía sau đuôi xe ô tô của D làm cho xe ô tô trượt đi một đoạn rồi dừng lại; còn xe ô tô do H điều khiển va vào hành lang bảo vệ đường bên phải, đi vào phần lề đường đất, va vào xe mô tô 90F8-0253 (đang dựng tại lề đường đất) rồi lật ngã.
Hậu quả: Nguyễn Đức Thành T1 và Nguyễn Tấn D tử vong tại chỗ; Nguyễn Văn T7, Nguyễn Đức Anh K và Hoàng Đình H2 bị thương; xe ô tô đầu kéo biển số 12C-077.61, xe mô tô 90F8-0253 và xe ô tô 51H – 638.90 hư hỏng; hư hỏng một phần hành lang bảo vệ đường.
Tại các kết luận giám định pháp y về tử thi số 262/23/KLGĐTT-PYKH và 263/23/KLGĐTT - PYKH ngày 28/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: nguyên nhân tử vong của Nguyễn Đức Thành T1 và Nguyễn Tấn D là đa chấn thương.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 516/23/KLTTCT-PYKH ngày 29/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Đình H2 tại thời điểm giám định là 01%.
Tại các kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 703/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 06/10/2023 và 748/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 19/10/2023 của Trung tâm pháp y Thành phố H kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức Anh K tại thời điểm giám định là 77%, của Nguyễn Hữu T tại thời điểm giám định là 78%.
Tại các kết luận định giá tài sản số 150/KL-HĐĐGTS và 151/KL-HĐĐGTS ngày 19/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: xe ô tô 51H-638.90 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông) bị thiệt hại 227.653.923 đồng; xe mô tô 90F8-0253 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông) bị thiệt hại 597.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 174/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 01 xe ô tô đầu kéo biển số 12C-077.61 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông) bị thiệt hại 181.966.400 đồng; 01 sơ mi rơ moóc biển số 12R-008.31 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông) bị thiệt hại 4.991.667 đồng; 01 thùng C1-ten-nơ (bị hư hỏng do tai nạn giao thông) bị thiệt hại 40.403.333 đồng. Tổng giá trị là 227.361.400 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 177/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 14m T8 (hành lang) bị móp méo, biến dạng, hư hỏng do tai nạn giao thông bị thiệt hại 15.041.936 đồng; 03 trụ kim loại rỗng bị móp méo, biến dạng, hư hỏng do tai nạn giao thông bị thiệt hại 949.149 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 21/CT-VKSCR-HS ngày 01/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm đ, e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 đến 06 năm tù.
b) Xử lý vật chứng: Trả lại cho chủ sở hữu Vũ Văn N1: xe ô tô đầu kéo biển số 12C-077.61, sơ mi rơ mooc biển số 12R-008.31, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô 12C-077.61, giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ mooc và giấy chứng nhận kiểm định của sơ mi rơ mooc biển số 12R-008.31, giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của xe ô tô 12C-077.61.
c) Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Đức Thành T1 và Nguyễn Tấn D đề nghị trả hồ sơ để điều tra xác định phần trách nhiệm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ.
Về nội dung: Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Đức Thành T1 và Nguyễn Tấn D, bị hại Nguyễn Đức Anh K đều đề nghị xử lý hình sự đối với bị cáo theo quy định pháp luật và yêu cầu bị cáo và ông Vũ Văn N1 phải liên đới bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật; nguyên đơn dân sự ông Ngô Bảo N yêu cầu bị cáo và ông Vũ Văn N1 phải liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 227.653.923 đồng.
Bị cáo và ông Vũ Văn N1 đồng ý liên đới bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Trong quá trình điều tra truy tố xét xử; Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng, bị hại Nguyễn Hữu T và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tuy nhiên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết
định xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 và 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.3] Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Đức Thành T1 và Nguyễn Tấn D đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để làm rõ trách nhiệm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ thì thấy rằng: theo lời khai của bị cáo, tại thời điểm xảy ra tai nạn, bị cáo nhìn thấy phía trước khoảng 30m có đám bụi lớn trên đường, tầm nhìn bị hạn chế. Cơ quan điều tra cũng đã thực hiện điều tra, xác minh để làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan nhưng hiện nay chưa xác định được. Tuy nhiên trách nhiệm gây ra khói, bụi vẫn không loại trừ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong việc gây ra tai nạn giao thông nên không có căn cứ cho việc trả hồ sơ, điều tra bổ sung. Do đó, đối với vấn đề thi công gây ra khói, bụi trên đường cao tốc, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[2] Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/6/2023, tại khu vực Km48+100 cao tốc Nha Trang - C thuộc thôn G, xã C, thành phố C; Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 12C-077.61 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 12R-008.31 chở Hoàng Đình H2 và Vũ Văn N1, không giữ khoảng cách an toàn nên va vào phía sau xe ô tô 51H – 638.90 (loại xe 04 chỗ) do Nguyễn Tấn D điều khiển chở Nguyễn Đức Thành T1, Nguyễn Đức Anh K, Nguyễn Hữu T đang đi phía trước cùng chiều. Sau đó, xe ô tô do H điều khiển tiếp tục va vào hành lang bảo vệ đường và xe mô tô 90F8-0253 đang dựng tại lề đường rồi lật ngã. Hậu quả:
- Nguyễn Tấn D, Nguyễn Đức Thành T1 chết;
- Nguyễn Đức Anh K bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 77%; Nguyễn Hữu T bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 78%; Hoàng Đình H2 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức Anh K, Nguyễn Hữu T, Hoàng Đình H2 là 156%.
- Xe ô tô 51H-638.90 bị thiệt hại 227.653.923 đồng; xe mô tô 90F8-0253 bị thiệt hại 597.000 đồng; 14m thanh kim loại bị thiệt hại 15.041.936 đồng; 03 trụ kim loại rỗng bị thiệt hại 949.149 đồng. Tổng trị giá là 244.242.008 đồng.
Hành vi của Nguyễn Văn H khi điều khiển phương tiện giao thông khi có tầm nhìn hạn chế đã không giảm tốc độ hoặc dừng lại một cách an toàn và không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước xe mình là vi phạm khoản 1 Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ và khoản 11 Điều 5 của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G “Qui định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ”. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ cơ sở cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã thực hiện hành vi với lỗi vô ý vì cẩu thả, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hậu quả của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng khiến 02 người tử vong, 03 người bị thương, gây thiệt hại một số tài sản khác nên cần xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần cho gia đình các bị hại. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử xem xét như sau:
[4.1] Đối với thiệt hại do Nguyễn Tấn D tử vong được tính toán trên cơ sở Điều 591 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gồm có:
- Tổn thất về tinh thần: 100 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng = 180.000.000 đồng.
- Về tiền trợ cấp cho các con của ông Nguyễn Tấn D: xét ông D có 2 con là Nguyễn Vũ Gia P1 (sinh ngày 14/11/2012) và Nguyễn Vũ Gia H3 (sinh ngày 15/4/2019) là con chung với bà Vũ Thị Thanh T3. Các cháu P1 và H3 là người chưa thành niên thuộc nghĩa vụ nuôi con chung của ông H3 và bà T3. Cụ thể:
+ Cháu Nguyễn Vũ Gia P1 (sinh ngày 14/11/2012) thời gian cấp dưỡng từ ngày 24/6/2023 đến ngày tròn 18 tuổi (14/11/2030) là 88 tháng 21 ngày.
+ Cháu Nguyễn Vũ Gia H3 (sinh ngày 15/4/2019) thời gian cấp dưỡng từ ngày 24/6/2023 đến ngày tròn 18 tuổi (15/04/2037) là 165 tháng 22 ngày.
Tổng thời gian cấp dưỡng trung bình cho 1 cháu là: (88 tháng 21 ngày + 165 tháng 22 ngày)/2 = 254 tháng 13 ngày/2 = 127 tháng và 6.5 ngày
Tại phiên tòa, bị cáo và ông Vũ Văn N1 đều đồng ý thực hiện việc cấp dưỡng một lần tính theo quy định. Do đó, số tiền phải cấp dưỡng thuộc nghĩa vụ của ông D tương đương với số tiền là 4.680.000 đồng (lương tối thiểu vùng tại Quận G - Thành phố Hồ Chí Minh) x 127 tháng và 6.5 ngày = 595.374.000 đồng.
- Chi phí mai táng, trên cơ sở các chứng từ có thể chấp nhận số tiền theo chứng từ là 58.400.000 đồng (gồm mai táng phí là 50.700.000 đồng + tiền vệ sinh tử thi 7.700.000 đồng).
Đối với tiền xây mộ là 75.000.000 đồng: căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không chấp nhận số tiền này.
Tổng cộng: 180.000.000 đồng + 595.374.000 đồng + 58.400.000 đồng = 833.774.000 đồng. Đã nhận số tiền 20.000.000 đồng, tiếp tục bồi thường 813.774.000 đồng.
[4.2] Đối với thiệt hại do Nguyễn Đức Thành T1 tử vong được tính toán trên cơ sở Điều 591 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gồm có:
- Tổn thất về tinh thần: 100 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng = 180.000.000 đồng.
- Về tiền trợ cấp cho các con của ông Nguyễn Đức Thành T1: xét ông T1 có 3 con là Nguyễn Hoàng M1 (sinh ngày 03/3/2010), Nguyễn Đức Thành N2 (sinh ngày 12/4/2017) và Nguyễn Hoàng P (sinh ngày 28/5/2013) là con chung với bà Nguyễn Thị Thu V1. Các cháu là người chưa thành niên thuộc nghĩa vụ nuôi con chung của ông H3 và bà T3. Cụ thể:
+ Cháu Nguyễn Hoàng M1 (sinh ngày 03/3/2010) thời gian cấp dưỡng từ ngày 24/6/2023 đến ngày tròn 18 tuổi (03/3/2028) là 56 tháng 8 ngày.
+ Cháu Nguyễn Đức Thành N2 (sinh ngày 12/4/2017) thời gian cấp dưỡng từ ngày 24/6/2023 đến ngày tròn 18 tuổi (12/04/2035) là 141 tháng 20 ngày.
+ Cháu Nguyễn Hoàng P (sinh ngày 28/5/2013) thời gian cấp dưỡng từ ngày 24/6/2023 đến ngày tròn 18 tuổi (28/5/2031) là 95 tháng 29 ngày.
Tổng thời gian cấp dưỡng của ông T1 là: (56 tháng 8 ngày + 141 tháng 20 ngày + 95 tháng 29 ngày)/2 = 292 tháng 27 ngày/2 = 146 tháng và 13.5 ngày
Tại phiên tòa, bị cáo và ông Vũ Văn N1 đều đồng ý thực hiện việc cấp dưỡng một lần tính theo quy định. Do đó, số tiền phải cấp dưỡng thuộc nghĩa vụ của ông D tương đương với số tiền là 4.680.000 đồng (lương tối thiểu vùng tại Quận A - Thành phố Hồ Chí Minh) x 146 tháng và 13.5 ngày = 685.466.000 đồng.
- Chi phí mai táng, trên cơ sở các chứng từ có thể chấp nhận số tiền theo chứng từ là 87.350.000 đồng; tiền xe chở tử thi về Bệnh viện C2 là 3.000.000 đồng; tiền vệ sinh tử thi tổng 15.000.000 - 7.700.000 đồng (do gia đình bà T3 đã trả) = 7.300.000 đồng. Tổng cộng: 97.650.000 đồng. Đối với tiền đội nhạc cổ truyền, thầy tụng kinh, thầy liệm: căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không chấp nhận số tiền này.
Tổng cộng: 180.000.000 đồng + 685.466.000 đồng + 97.650.000 đồng = 963.116.000 đồng. Đã nhận 20.000.000 đồng, tiếp tục bồi thường 943.116.000 đồng.
[4.3] Đối với thiệt hại do Nguyễn Đức Anh K bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 77% yêu cầu bồi thường 171.792.000 đồng, đã nhận số tiền
20.000.000 đồng nên tiếp tục yêu cầu số tiền 151.792.000 đồng và Nguyễn Hữu T bị thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 78% yêu cầu bồi thường 247.800.000 đồng, đã nhận số tiền 20.000.000 đồng nên tiếp tục yêu cầu số tiền 227.800.000 đồng. Bị cáo và ông Vũ Văn N1 đồng ý với các yêu cầu này nên ghi nhận.
[4.4] Ông Ngô Bảo N, chủ xe ô tô 51H - 638.90 có yêu cầu bồi thường số tiền 227.653.923 đồng là phù hợp với kết luận giám định thiệt hại, nên chấp nhận.
[4.5] Về trách nhiệm bồi thường, Hội đồng xét xử xét thấy nên buộc bị cáo và chủ xe ông Vũ Văn N1 phải liên đới bồi thường theo các yêu cầu là phù hợp. Trong đó, nên giao tiền cấp dưỡng nuôi con chung của bị hại Nguyễn Đức Thành T1 và Nguyễn Tấn D đã tử vong cho người đại diện theo pháp luật của các cháu và trừ lại số tiền mà ông N1, bị cáo đã bồi thường.
[4.6] Bị hại Hoàng Đình H2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có yêu cầu gì về dân sự nên không xét.
[5] Vật chứng:
- Đối với 01 xe ô tô đầu kéo biển số 12C-077.61 và sơ mi rơ mooc biển số 12R-008.31 kèm theo các đăng ký xe là tài sản của ông Vũ Văn N1 nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành nghĩa vụ bồi thường.
- Đối với số tiền mà bà Nguyễn Thị Thanh T4, vợ bị cáo Nguyễn Văn H đã nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự thành phố C là 40.000.000 đồng: Bà T4 xác nhận đây là số tiền bà thay mặt bị cáo nộp bồi thường cho 04 bị hại Nguyễn Đức Thành T1, Nguyễn Tấn D, Nguyễn Đức Anh K và Nguyễn Hữu T, mỗi người 10.000.000 đồng nên giao cho các bị hại. Đồng thời, bà T4 cũng không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này nên không xét.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định. Ông Vũ Văn N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm đ, e khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Khoản 1 Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ;
- Khoản 11 Điều 5 của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải “Qui định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ”;
- Điều 288, Điều 589, Điều 590, Điều 591 và Điều 601 của Bộ luật Dân sự;
- Điều 327 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 (năm) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 04/7/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H và ông Vũ Văn N1 có trách nhiệm liên đới bồi thường như sau:
3.1 Liên đới bồi thường cho ông Ngô Bảo N số tiền 227.653.923, trong đó bị cáo và ông Vũ Văn N1 mỗi người có trách nhiệm bồi thường 113.826.962 đồng (Một trăm mười ba triệu, tám trăm hai mươi sáu nghìn, chín trăm sáu mươi hai đồng).
3.2 Liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Đức A1 Khoa số tiền 151.792.000 đồng, trong đó:
3.2.1 Ông Vũ Văn N1 mỗi người có trách nhiệm bồi thường 75.896.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
3.2.2 Bị cáo có trách nhiệm bồi thường 75.896.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng), khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng trong tổng số tiền 40.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003840 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Cam Ranh, số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường là 65.896.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
3.3 Liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Hữu T số tiền 227.800.000 đồng, trong đó:
3.3.1 Ông Vũ Văn N1 mỗi người có trách nhiệm bồi thường 113.900.000 đồng (Một trăm mười ba triệu, chín trăm nghìn đồng).
3.3.2 Bị cáo có trách nhiệm bồi thường 113.900.000 đồng (Một trăm mười ba triệu, chín trăm nghìn đồng), khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng trong tổng số tiền 40.000.000 đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003840 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường là 103.900.000 đồng (Một trăm lẻ ba triệu, chín trăm nghìn đồng).
3.4 Liên đới bồi thường thiệt hại do ông Nguyễn Đức Thành T1 tử vong số tiền 943.116.000 đồng, bao gồm:
3.4.1 Tiền cấp dưỡng nuôi con của ông T1 685.466.000 đồng giao cho bà Nguyễn Thị Thu V1, trong đó bị cáo và ông Vũ Văn N1 mỗi người có trách nhiệm bồi thường 342.733.000 đồng (Ba trăm bốn mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng).
3.4.2 Số tiền còn lại 257.350.000 đồng giao cho hàng thừa kế thứ nhất của ông T1 gồm: bà Nguyễn Thị Thu V1, bà Hồ Thị M, cháu Nguyễn Hoàng M1,
cháu Nguyễn Đức Thành N2 và cháu Nguyễn Hoàng P, trong đó:
3.4.2.1 Ông Vũ Văn N1 có trách nhiệm bồi thường 128.825.000 đồng (Một trăm hai mươi tám triệu, tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
3.4.2.2 Bị cáo có trách nhiệm bồi thường 128.825.000 đồng (Một trăm hai mươi tám triệu, tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng), khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng trong tổng số tiền 40.000.000 đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003840 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường là 118.825.000 đồng (Một trăm mười tám triệu, tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
3.5 Liên đới bồi thường thiệt hại do ông Nguyễn Tấn D tử vong số tiền 813.774.000 đồng, bao gồm:
3.5.1 Tiền cấp dưỡng nuôi con của ông D 595.374.000 đồng giao cho bà Vũ Thị Thanh T3, trong đó bị cáo và ông Vũ Văn N1 mỗi người có trách nhiệm bồi thường 297.687.000 đồng (Hai trăm chín mươi bảy triệu, sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
3.5.2 Số tiền còn lại 218.400.000 đồng giao cho hàng thừa kế thứ nhất của ông D gồm: bà Vũ Thị Thanh T3, bà Vương Thị C, cháu Nguyễn Vũ Gia P1, cháu Nguyễn Vũ Gia H3, trong đó:
3.5.2.1 Ông Vũ Văn N1 có trách nhiệm bồi thường 109.200.000 đồng (Một trăm lẻ chín triệu, hai trăm nghìn đồng).
3.4.2.2 Bị cáo có trách nhiệm bồi thường 109.200.000 đồng (Một trăm lẻ chín triệu, hai trăm nghìn đồng), khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng trong tổng số tiền 40.000.000 đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003840 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Cam Ranh, số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường là 99.200.000 đồng (Chín mươi chín triệu, hai trăm nghìn đồng).
Quy định chung: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải thanh toán thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về vật chứng:
- Tiếp tục tạm giữ các vật chứng để đảm bảo việc thi hành án của ông Vũ Văn N1:
+ 01 (một) xe ô tô đầu kéo biển số 12C-077.61, số máy: 2901S0032824, số khung: LDR9BLAV8745, xe hư hỏng hoàn toàn do tai nạn giao thông.
+ 01 (một) sơ mi rơ moóc biển số 12R-008.31, số khung: 2383E1014573, xe hư hỏng hoàn toàn do tai nạn giao thông.
+ 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 018903, biển số đăng ký: 12C- 077.61, số máy: 2901S0032824, số khung: LDR9BLAV8745. Đứng tên:
Nguyễn Thị Hoài P2
+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số: 001403, biển số đăng ký: 12R-008.31, số khung: 2383E1014573. Đứng tên: Nguyễn Thị Hoài P2.
(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh).
- Giao số tiền 40.000.000 mà bị cáo Nguyễn Văn H (bà Nguyễn Thị Thanh T4 nộp thay) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003840 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Cam Ranh cho các ông, bà sau:
+ Giao cho bà Vũ Thị Thanh T3, bà Vương Thị C, cháu Nguyễn Vũ Gia P1, cháu Nguyễn Vũ Gia H3 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
+ Giao cho bà Nguyễn Thị Thu V1, bà Hồ Thị M, cháu Nguyễn Hoàng M1, cháu Nguyễn Đức Thành N2 và cháu Nguyễn Hoàng P số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
+ Giao cho ông Nguyễn Đức A1 Khoa số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
+ Giao cho ông Nguyễn Hữu T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 47.971.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng án phí là 48.171.000 đồng (Bốn mươi tám triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Ông Vũ Văn N1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 49.171.000 đồng (Bốn mươi chín triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, ông Vũ Văn N1, ông Ngô Bảo N, bà Vũ Thị Thanh T3, bà Nguyễn Thị Thu V1, bà Nguyễn Thị Thanh T4, ông Nguyễn Đức Anh K và ông Hoàng Đình H2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiếu |
Bản án số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 12/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 38/2024/QĐXXST-HS
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/6/2023, tại khu vực Km48+100 cao tốc Nha Trang - Cam Lâm thuộc thôn Giải Phóng, xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh; Nguyễn Văn Hạnh điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 12C-077.61 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 12R-008.31 chở Hoàng Đình Hà và Vũ Văn Ngọc, không giữ khoảng cách an toàn nên va vào phía sau xe ô tô 51H – 638.90 (loại xe 04 chỗ) do Nguyễn Tấn Duy điều khiển chở Nguyễn Đức Thành Tựu, Nguyễn Đức Anh Khoa, Nguyễn Hữu Tuân đang đi phía trước cùng chiều. Sau đó, xe ô tô do Hạnh điều khiển tiếp tục va vào hành lang bảo vệ đường và xe mô tô 90F8-0253 đang dựng tại lề đường rồi lật ngã. Hậu quả: - Nguyễn Tấn Duy, Nguyễn Đức Thành Tựu chết; - Nguyễn Đức Anh Khoa bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 77%; Nguyễn Hữu Tuân bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 78%; Hoàng Đình Hà bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức Anh Khoa, Nguyễn Hữu Tuân, Hoàng Đình Hà là 156%. - Xe ô tô 51H-638.90 bị thiệt hại 227.653.923 đồng; xe mô tô 90F8-0253 bị thiệt hại 597.000 đồng; 14m thanh kim loại bị thiệt hại 15.041.936 đồng; 03 trụ kim loại rỗng bị thiệt hại 949.149 đồng. Tổng trị giá là 244.242.008 đồng
