Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 29-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Nguyên.

2. Ông Trịnh Ngọc Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Phí L - sinh năm 1985, tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Phí V – sinh năm 1954 và bà Đoàn Thị H - sinh năm 1956ồngH; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 02/2021/HS-ST ngày 20/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Định Quán xử phạt bị cáo 08 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 01/3/2024 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại:

  1. Ông Võ Q – sinh năm 1976; cư trú: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị Kim H1 – sinh năm 1985; cư trú: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Văn K – sinh năm 1988; cư trú: ấp B, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  2. Bà Trần Thị Hồng Q1 – sinh năm 1975; cư trú: tổ D, ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Người làm chứng: Bùi Ngọc D – sinh năm 1987.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Phí L, sinh năm 1985, ngụ ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai là đối tượng nghiện ma túy và không có việc làm ổn định. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 24/02/2024, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Bùi Phí L đi bộ qua khu vực ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi phát hiện tại nhà bà Nguyễn Thị Kim H1 có một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius biên số 60B3 - 326.45 để trước sân không có ai trông coi, chìa khóa cắm sẵn trong ổ khóa nên lén lút bước vào sân dắt xe mô tô ra và nổ máy tẩu thoát. Sau đó, Bùi Phí L mang xe mô tô bán cho anh Huỳnh Văn K, sinh năm 1988, là chủ tiệm thu mua phế liệu tại ấp B, xã G, huyện Đ, được số tiền 1.000.000 đồng, L sử dụng số tiền trên vào mục đích mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.

Khoảng 11 giờ ngày 26/02/2024, Bùi Phí L tiếp tục đi bộ qua khu vực ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang qua nhà ông Võ Q – sinh năm 1976, quan sát không có ai trông coi nên L lén lút vào dắt xe mô tô ra khỏi sân, do xe không nổ máy được nên L dắt đến tiệm sửa xe máy của ông Trần Văn C, sinh năm 1991, ngụ ấp B, xã P, huyện T, để sửa xe rồi chạy về nhà cất giấu. Buổi tối cùng ngày, L chạy xe qua nhà Bùi Ngọc D (bạn L) hỏi nơi bán xe thì D chỉ đến tiệm thu mua phế liệu tại xã P nên L chạy xe mô tô biển số 55Y7 -2484 đến gặp bà Trần Thị Hồng Q1, sinh năm 1975, là chủ tiệm thu mua phế liệu tại ấp N, xã P, huyện T bán được số tiền 850.000 đồng, L sử dụng số tiền trên vào mục đích mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.

Đến ngày 29/02/2024, qua trình báo của người dân, Công an xã P đã trích xuất dữ liệu camera và mời Bùi Phí L lên làm việc. Tại cơ quan công an, Bùi Phí L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius biển số 60B3 - 326.45 và một xe mô tô hiệu Yamaha loại Nouvo 4 biển số 55Y7 - 2484.

Trị giá tài sản thiệt hại: tại Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius biển số 60B3 - 326.45, đã qua sử dụng, có giá trị 5.500.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Nouvo 4 biển số 55Y7 - 2484, đã qua sử dụng, có giá trị 2.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 62/QĐ-VKSTP-ĐN ngày 02 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Bùi Phí L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo, cụ thể như sau:

Áp dụng khoản 1, Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Bùi Phí L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam.

Về vật chứng vụ án: 01 xe mô tô biển số 60B3 - 326.45 của bà Nguyễn Thị Kim H1 và 01 xe mô tô biển số 55Y7 - 2484 của ông Võ Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả cho các chủ sở hữu trên là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: bà Nguyễn Thị Kim H1, ông Võ Q đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu câu về bồi thường trách nhiệm dân sự. Anh Huỳnh Văn K, bà Trần Thị Hồng Q1 không yêu cầu Bùi Phí L phải hoàn trả lại số tiền bán xe mô tô nên không xem xét.

Đối với Bùi Ngọc D, Huỳnh Văn K, Trần Thị Hồng Q1: khi giới thiệu và mua bán xe mô tô do Bùi Phí L mang đến thì không biết đây là tài sản do L trộm cắp mà có được nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với bị cáo, thống nhất về xử lý vật chứng và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện bị cáo Bùi Phí L đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Kim H1 01 xe mô tô biển số 60B3 - 326.45 trị giá 5.500.000 đồng và 01 xe mô tô biển số 55Y7 - 2484 của ông Võ Q trị giá 2.500.000 đồng, đây là tài sản hợp pháp của bà H1 và ông Q. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 62/QĐ-VKSTP-ĐN ngày 02 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Bùi Phí L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
  2. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Trong vụ án này bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được hậu quả của hành vi sai trái và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội, nhưng vì tham lam, vụ lợi mà bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết đưa ra xét xử nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.
  3. Về tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
  5. Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác trong vụ án: 01 xe mô tô biển số 60B3 - 326.45 và 01 xe mô tô biển số 55Y7 - 2484 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim H1, ông Võ Q nên cơ quan điều tra đã trao trả cho các chủ sở hữu trên là có căn cứ, nên không xét.
  6. Về trách nhiệm dân sự: bà Nguyễn Thị Kim H1, ông Võ Q đã nhận lại tài sản bị chiêm đoạt, không có yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa vắng mặt nên không xem xét. Anh Huỳnh Văn K, bà Trần Thị Hồng Q1 không yêu cầu Bùi Phí L phải hoàn trả lại số tiền bán xe mô tô, tại phiên tòa vắng mặt nên không xem xét.
  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án.
  9. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.òaHHJJJJJjjjdncncsnjcjjjjjjneqjd'unhfcowiujJjznqdsnhhudhh

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Phí L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt: Bùi Phí Luân 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.

- Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân phú;
  • - Chi cục THA dân sự Tân Phú;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger