Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 24/6/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc

Thẩm phán: Ông Phạm Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Cang

Ông Trần Văn Việt

Ông Trần Quốc Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 28/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 03/6/2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn D, sinh năm 1984 tại Hải Dương; Thường trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: lái tàu cá; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; con ông Nguyễn Văn T (sinh năm 1964) và bà Dương Thị H (sinh năm 1964); là con đầu trong gia đình có 03 anh em; có vợ là Trần Thị P (sinh năm 1984) và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
    Bị bắt ngày 08/10/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
  2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986 tại Hải Dương; Thường trú: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm biển; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Nguyễn Văn T (sinh năm 1964) và bà Dương Thị H (sinh năm 1964); là con thứ hai trong gia đình có 03 anh em; đã ly hôn vợ là Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1988) và có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.
    Bị bắt ngày 08/10/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
  3. Thạch T2, sinh năm 1997 tại Trà Vinh; Thường trú: ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở: Tổ I, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: đi biển; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Thạch N (đã chết) và bà Thạch Thị V (sinh năm 1962); là con út trong gia đình có 02 chị em; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không
    Bị bắt ngày 08/10/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
  4. Trần Văn Q, sinh năm 1988 tại Nam Định; Thường trú: khu A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; chỗ ở: xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm biển; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Trần Ngọc Q1 (đã chết) và bà Trần Thị B (sinh năm 1958); là con út trong gia đình có 03 anh em; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
    Bị bắt ngày 08/10/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
  5. Nguyễn Văn M, sinh năm 1989 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm biển; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Nguyễn Văn D1 (đã chết) và bà Trần Thị S; là con thứ tám trong gia đình có 09 anh chị em; Tiền án, tiền sự: Không.
    Bị bắt ngày 08/10/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
  6. Nguyễn Lâm T3, sinh năm 2002 tại Quảng Ngãi; Thường trú: khu phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: làm biển; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 01/12; không rõ cha; con bà Nguyễn Thị N1 (đã chết); là con duy nhất trong gia đình; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
    Bị bắt ngày 08/10/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
  7. Lê Quốc C, sinh năm 1994 tại Vĩnh Long; Thường trú: khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: làm biển; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Lê Thanh T4 (sinh năm 1968) và bà Trần Thị Út E (sinh năm 1973); là con thứ hai trong gia đình có 03 chị em; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
    Bị bắt ngày 08/10/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
  8. Nguyễn Văn S1, sinh năm 1997 tại Bến Tre; Thường trú: khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: làm biển; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Trương Văn L (sinh năm 1975) và bà Nguyễn Thị Ngọc M1 (sinh năm 1977); là con thứ hai trong gia đình có 03 anh em; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không;
    Bị bắt ngày 08/10/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

* Bị hại: Ông Nguyễn Quốc T5, sinh năm 1990; Thường trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.(đã chết trong vụ án)

Đại diện hợp pháp của bị hại là mẹ ruột: Bà Nguyễn Thị Thu S2 (tức: Y), sinh năm 1964; Thường trú: Tổ E, ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T1, Thạch T2, Trần Văn Q: Luật sư Lê Nguyễn Ái V1 – Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)

* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Lê Quốc C, Nguyễn Văn S1: Luật sư Trịnh Thị H2 – Công ty L2, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Minh Q2, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Hùng V2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
  3. Ông Nguyễn Thành C1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
  4. Ông Lê Thanh P1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số nhà B, khu B, ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Ngọc Q3, sinh năm 1995. Địa chỉ: 3 T, phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h00' ngày 06/10/2023, đôi tàu cá mang số hiệu BV92845TS và BV92844TS do ông Nguyễn Hùng V2 làm thuyền trưởng cùng các thuyền viên Nguyễn Quốc T5, Nguyễn Thành C1, Lê Thanh P1, Nguyễn Ngọc Q3 và các thuyền viên khác neo đậu tại vùng biển cách huyện C khoảng 40 hải lý về hướng Nam để xin nước đá ướp cá từ đôi tàu cá BV92756TS và BV92754TS do bị cáo Nguyễn Văn D làm thuyền trưởng cùng các thuyền viên Nguyễn Văn T1 (em ruột Nguyễn Văn D), Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Văn M, Lê Quốc C, Nguyễn Văn S1, Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Minh Q2 và các thuyền viên khác. Khoảng 15h00' thuyền viên Nguyễn Minh Q2 trên tàu bị cáo D sang tàu cá BV92845TS của ông V2 xin bao tay bảo hộ lao động thì xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau với thuyền viên Nguyễn Quốc T5. Q2 bị T5 dùng 01 cái tuốc nơ vít bằng kim loại đâm 01 nhát gây thủng bụng, lòi ruột ra ngoài nên bỏ chạy về tàu của mình. Lúc này, các thuyền viên của cả hai đôi tàu xô xát với nhau nên ông V2 điều khiển tàu BV92845TS bỏ chạy thì Trìu điều khiển tàu cá BV92754TS đuổi theo tàu ông V2 để đánh T5. Quá trình đuổi theo tàu BV92845TS, T2 lấy khoảng 10 con dao Thái Lan và 01 con dao bấm trên tàu để ra sàn tàu cho các thuyền viên lấy sử dụng đánh T5 khi đuổi kịp tàu BV92845TS. Q, M, S1, C, T3 đều cầm dao Thái Lan, còn T2 qua tàu BV92754TS do

T1 điều khiển đuổi theo tàu ông V2. Trong khi đuổi theo tàu BV92845TS, Q yêu cầu M, S1, C đưa lại dao cho T3 và M để dùng máy cắt kim loại tạo mũi nhọn cho dao và chế tạo dao, kéo để sử dụng đánh T5.

Khoảng 40' sau, T1 điều khiển tàu cá BV92754TS đuổi kịp và cho tàu áp vào mạn phải tàu BV92845TS của ông V2. Trìu cầm 01 bình Gas loại 13,4kg nhảy qua tàu ông V2 đe dọa nếu không dừng sẽ đốt bình Gas cho nổ tàu. Ông V2 cho tàu dừng lại thì tàu cá do D điều khiển cũng đuổi kịp và áp vào mạn trái tàu ông V2. Lúc này, T1 mang theo 02 dao Thái Lan và 01 mỏ lết, T2 và Q cầm mỗi người 02 dao Thái Lan, M cầm 01 dao Thái Lan và 01 tua vít, T3 cầm theo dao tự chế, C cầm 02 dao Thái Lan, S1 cầm 01 dao Thái Lan; tất cả cùng sang tàu BV92845TS đuổi đánh T5 ở khu vực cabin tàu. Tại cabin tàu, T1, T2, Q, M, T3 dùng dao đâm vào người T5 nhiều nhát rồi bỏ đi. D cầm 1 con dao Thái Lan đi đến chỗ T5 nhưng không đâm T5 mà nhặt mỏ lết bằng kim loại đánh 2 cái vào chân T5 rồi bỏ đi.

S1, C, ban đầu đã tiếp nhận ý chí tấn công T5 nên S1 cầm 01 con dao và C cầm 02 con dao cùng tham gia rượt đuổi tàu của ông V2, đánh T5 để trả thù. Tuy nhiên, khi S1, C đến khu vực cabin tàu thì nhiều người đang tấn công T5 nên S1, C đi đến mũi tàu dùng tay đánh D2 và Nguyễn Ngọc Q3 nhưng không gây thương tích.

Sau khi tấn công T5 xong thì Q3, T2, S1, C, T3 đến chỗ C1 và D2. Q3 cầm dao đâm Cang 2 nhát gây xây xát da; T2, S1, C, T3 dùng tay đánh C1 và D2 nhưng không gây thương tích. Còn D, T1 tiếp tục quay lại chỗ T5 đang nằm. Thấy T5 vẫn chưa chết, D nhặt một thanh kim loại đánh vào vai trái của T5 một cái và dùng tay tát vào mặt T5 một cái; còn T1 cũng xông vào đánh T5 nhưng được những người trên tàu BV92845TS can ngăn nên chưa đánh được. T2, S1, C, M, Q3, Trường quay lại tàu và ném dao xuống biển.

* Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 382 ngày 07/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B đối với Nguyễn Quốc T5 xác định:

“a. Các kết quả chính:

  • Vết thương rách da cơ vùng thượng đòn phải, mép gọn, góc trên nhọn, góc dưới tù, kích thước 2.8cm x 0.7cm, vết thương này gây tụ máu dưới da và trong cơ vùng thượng đòn bên phải, gây rách động mạch dưới đòn phải, rách thùy trên phổi phải, kích thước 1.2cm x 0.8cm, tràn máu khoang ngực phải. Vật tác động gây nên vết thương là vật sắc nhọn, bản dẹt; tác động trực tiếp vào vùng thượng đòn cơ thể nạn nhân theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải sang trái.
  • Vùng 1/3 giữa trước cẳng tay phải có 02 vết thương rách da, mép gọn, có kích thước từ trên xuống dưới lần lượt là 1.9cm x 0.4cm và 1.9cm x 0.3cm. Vết thương rách da mặt sau căng tay phải, mép gọn, kích thước 4.5cm x 0.3cm. Vết thương rách da mặt mu cạnh trong đốt bàn-ngón 1 bàn tay trái, mép gọn, kích
  • thước 1.8cm x 0.3cm. Vết thương rách da mặt trước ngoài đùi phải 1/3 dưới, mép gọn, kích thước 1.8cm x 0.3cm. Vết thương rách da mặt trong đùi phải 1/3 dưới, mép gọn, kích thước 1.5cm x 0.4cm. Vùng trước ngoài cẳng chân trái, 1/2 trên, có 03 vết thương rách da mép gọn, kích thước lần lượt từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong là 2cm x 0.3cm và 2.2cm x 0.3cm và 4.5cm x 1cm. Vùng mặt trong căng chân trái, 2/3 trên, có 02 vết thương rách da, mép gọn, kích thước lần lượt từ trên xuống dưới là 1.3cm x 0.3cm và 1.5cm x 0.2cm. Vật tác động gây nên vết thương tại khu vực này là vật sắc nhọn, bản dẹt; tác động trực tiếp vào cơ thể nạn nhân theo chiều từ trước ra sau.
  • Vết trợt-xây sát da giữa ngực, kích thước 3cm x 0.4cm. Vùng trước ngoài đùi phải 1/3 giữa có 03 vết thương rách da, mép nham nhở, bờ ngoài vết thương có bầm máu da, kích thước lần lượt từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong là 0.2cm x 0.2cm và 0.8cm x 0.2cm và 0.3cm x 0.2cm. Vật tác động gây nên vết thương khu vực này là vật cứng, có đầu tù; tác động trực tiếp vào vùng ngực và vùng đùi cơ thể nạn nhân theo chiều từ trước ra sau.
  • Vết thương rách da mặt sau-trong 1/3 dưới cẳng tay trái, hình vạt góc, mép nham nhở, kích thước 7cm x 3.4cm. Vật tác động gây nên vết thương là vật tày có cạnh sắc; tác động trực tiếp vào vùng cẳng tay cơ thể nạn nhân theo chiều từ trên xuống dưới.

Kết quả xét nghiệm, giám định khác: xuất huyết, tụ máu rải rác ở mô liên kết dưới da ngực và động mạch dưới đòn. Các tạng khác phù nề, sung huyết.

Trong máu tử thi Nguyễn Quốc T5 không tìm thấy cồn E1; không tìm thấy ma túy; xét nghiệm HIV: Âm tính.

b. Kết luận nguyên nhân chết: Nguyễn Quốc T5 chết do vết thương thấu ngực gây đứt động mạch dưới đòn phải, rách thùy trên phổi phải, mất máu cấp”.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 07 ngày 08/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Nguyễn Minh Q2 xác định:

“a. Các kết quả chính:

  • 01 sẹo hồn hợp (sẹo vết thương và sẹo phẫu thuật).
  • Mở ruột non ra da, khả năng lành sẹo lớn.
  • 02 sẹo nhỏ (sẹo dẫn lưu).
  • Vết thương thấu bụng, phẫu thuật 2 lần cắt ruột non (đoạn giữa ruột non và hồi tràng, ruột non còn lại # 03 mét), gỡ dính, còn mở ruột non ra da.

b. Kết luận:

  • Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh Q2 tại thời điểm giảm định là 63% (sáu mươi ba phần trăm).
  • Đặc điểm vật gây ra thương tích, cơ chế hình thành từng thương tích: Thương tích trên được gây ra do sự tác động tương hỗ bởi vật cứng sắc nhọn, tác

động với lực mạnh vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau, cơ chế đâm”.

* Kết luận giám định gen (ADN) số 6693 ngày 29/11/2023 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C2 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • “- Dấu vết nghi máu thu tại sàn gỗ trong cabin (buồng tài công) trên tàu BV92845TS; dấu vết nghi máu thu tại vị trí tử thi Nguyễn Quốc T5 nằm trên tàu BV92845TS là máu người, của một nam giới. Kiểu gen nam giới này trùng với kiểu gen của Nguyễn Quốc T5.
  • Trên con dao Thái Lan kích thước 0,02x0,21m thu tại vị trí số 1 trên tàu BV92756TS có dính máu người, của một nam giới. Kiểu gen của nam giới này trùng với kiểu gen của Nguyễn Quốc T5.
  • Trên các mẫu vật còn lại có dính tế bào người. Phân tích được kiểu gen không hoàn chỉnh do dấu vết kém nên không truy nguyên được cá thể”.

Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T1, Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C, Nguyễn Lâm T3 đã khai nhận hành vi, diễn biến sự việc như đã nêu trên và công nhận kết quả điều tra. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng về nguyên nhân, diễn biến sự việc và kết quả thực nghiệm điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

* Vật chứng: Đã chuyển giao Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo quản:

  • 06 con dao Thái Lan mỗi con dao có kích thước: 0,02x0,21m;
  • 01 con dao Thái Lan có kích thước 0,02x0,18m;
  • 01 con dao bằng kim loại, màu đen, kích thước 0,38x0,07m ;
  • 01 điện thoại di động Oppo A54 sê-ri: WWSOUKCEAQLBP7DQ tạm giữ của Nguyễn Văn T1.
  • 01 điện thoại di động Oppo màu đen, sê-ri: Y55TGQJJYDIRYDFU tạm giữ của Nguyễn Văn D.

* Phần dân sự:

  • Bà Nguyễn Thị Thu S2 là mẹ ruột của Nguyễn Quốc T5, đại diện cho gia đình yêu cầu các bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật.
  • Gia đình bị cáo Nguyễn Văn D khắc phục hậu quả số tiền 20.000.000 đồng cho người đại diện bị hại Nguyễn Quốc T5.
  • Nguyễn Minh Q2 không yêu cầu bồi thường.

* Các vấn đề liên quan:

  • Kết quả điều tra còn xác định các bị cáo T2, Q, S1, C, T3, M còn có hành vi tấn công các ông Nguyễn Thành C1, Nguyễn Ngọc Q3 gây thương tích xây xát ngoài da. Do các ông C1, Q3 không yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu

không xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với các bị can T2, Q3, S1, C, T3, M về hành vi này.

  • Bị hại Nguyễn Quốc T5 trong quá trình xô xát đánh nhau với Nguyễn Minh Q2 đã có hành vi dùng tuốc nơ vít đâm Q2 01 nhát gây thương tích 63% có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do T5 đã chết nên Cơ quan điều tra ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 104/QĐ ngày 25/01/2024 đối với hành vi của T5, ra Quyết định số 01/QĐ-XPHC-Đ1 ngày 26/01/2024 xử phạt hành chính đối với Nguyễn Minh Q2 về hành vi Cố ý gây thương tích theo quy định.

2. Tại Cáo trạng số 35/CT-VKSBRVT-P2 ngày 22/02/2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T1, Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T1, Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C phạm tội “Giết người”;

  • Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn M 18 (Mười tám) - 20 (Hai mươi) năm tù.
  • Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Lâm T3 16 (Mười sáu) - 18 (Mười tám) năm tù.
  • Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 12 (Mười hai) - 14 (Mười bốn) năm tù.
  • Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C 14 (Mười bốn) - 16 (Mười sáu) năm tù.

- Xử lý vật chứng:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 06 con dao Thái Lan mỗi con dao có kích thước: 0,02x0,21m; 01 con dao Thái Lan có kích thước 0,02x0,18m; 01 con dao bằng kim loại, màu đen, kích thước 0,38x0,07m;
  • Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54, số sê-ri: WWSOUKCEAQLBP7DQ cho bị cáo Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số sê-ri: Y55TGQJJYDIRYDFU cho bị cáo Nguyễn Văn D là tài sản cá nhân của các bị cáo, không liên quan đến vụ án.
  • Trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự thoả thuận tại phiên toà về bồi thường thiệt hại giữa các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại.

4. Tranh luận và đối đáp tại phiên toà:

4.1. Luật sư Trịnh Thị H2 bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Lê Quốc C, Nguyễn Văn S1:

Thay mặt các bị cáo xin lỗi gia đình bị hại; nhất trí với tội danh và Điều khoản truy tố của Viện Kiểm sát. Các bị cáo tuổi đời còn trẻ, học vấn thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu thốn tình cảm và sự quan tâm chăm sóc giáo dục của gia đình và người thân, bị cáo T3 mồ côi cả cha lẫn mẹ. Hành vi phạm tội của các bị cáo do bột phát, giận quá mất khôn từ việc chứng kiến bạn đi chung ghe bị bị hại dùng tuốc nơ vít đâm lòi ruột, bị kích động mạnh về tinh thần nên thiếu sự kiềm chế để xảy ra sự việc. Các bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã liên lạc nhờ gia đình khắc phục hậu quả, chưa được như mong muốn vì hoàn cảnh quá khó khăn.

Trong vụ án, bị cáo T3 và bị cáo S1 không trực tiếp đâm bị hại, bị cáo M không đâm và còn bị đâm vào tay nhưng không rõ ai đâm, nên mức án như Viện Kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định mức hình phạt phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

4.2. Luật sư Lê Nguyễn Ái V1 bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T1, Thạch T2, Trần Văn Q:

Luật sư chia buồn, chia sẻ mất mát của gia đình bị hại; thống nhất tội danh, khung hình phạt truy tố của Viện Kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình quan tâm xem xét hoàn cảnh phạm tội, hoàn cảnh gia đình, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo và bị hại là bạn ghe cùng đi biển mưu sinh, chưa hề có mâu thuẫn thù hằn gì với nhau trước đó. Nguyên nhân vụ việc do bị hại gây thương tích nghiêm trọng cho bạn đi chung ghe với các bị cáo 63% khiến các bị cáo bị kích động tinh thần, không kiềm chế được bản thân, hậu quả đau lòng xảy ra.

Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình nghèo khó, học vấn thấp, nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình, gánh vác trách nhiệm nuôi dưỡng người thân, thực sự đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhưng do hạn chế trong nhận thức pháp luật khi nghe và trả lời các câu hỏi bởi trình độ học vấn thấp nên Viện Kiểm sát đánh giá là chưa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đã tích cực phối hợp với cơ quan chức năng trong quá trình điều tra vụ án, bồi thường thiệt hại làm giảm nhẹ nỗi đau gia đình bị hại phải gánh chịu. Bản thân các bị cáo đều là người lao động bản tính hiền lành, chân chất, nhất thời phạm tội.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án nhẹ thể hiện sự khoan hồng của

pháp luật để các bị cáo sớm được trở về với gia đình người thân; áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D và bị cáo T1.

4.3. Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T1, Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C thống nhất theo quan điểm bào chữa của luật sư và không bào chữa gì thêm.

4.4. Đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

4.5. Đại diện Viện Kiểm sát đối đáp: Giữ nguyên quan điểm và đề nghị.

4.6. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội, chăm sóc gia đình và người thân.

5. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Ngày 06/10/2023, do mâu thuẫn trong khi làm việc trên biển trong vùng biển Việt Nam, thuyền viên Nguyễn Quốc T5 trên đôi tàu cá mang số hiệu BV92845TS và BV92844TS do ông Nguyễn Hùng V2 làm thuyền trưởng dùng tuốc nơ vít bằng kim loại đâm một nhát vào bụng thuyền viên Nguyễn Minh Q2 trên đôi tàu cá BV92756TS và BV92754TS do Nguyễn Văn D làm thuyền trưởng gây lòi ruột, thương tích 63%. Bực tức vì thuyền viên trên tàu của mình bị tấn công nên Nguyễn Văn D cùng các thuyền viênNguyễn Văn T1(em ruột Nguyễn Văn D), Thạch T2, Trần

Văn Q, Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc Cđã dùng tàu rượt đuổi, áp mạn tàu rồi cả nhóm sang tàu cá của ông V2, dùng dao Thái Lan và các hung khí nguy hiểm bằng kim loại tấn công thuyền viên Nguyễn Quốc T5, khiến T5 chết tại chỗ trên tàu.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T1, Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, đúng như như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, các bị cáo nhận thức rõ việc dùng dao Thái Lan và các hung khí nguy hiểm bằng kim loại đâm, đánh nhiều nhát vào người bị hại là hành vi cực kỳ nguy hiểm có thể dẫn đến chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện chỉ vì bực tức khi thuyền viên trên tàu mình bị bị hại tấn công trong quá trình cùng nhau làm việc trên biển. Các bị cáo chọn giải pháp giải quyết mâu thuẫn bằng việc dùng dao Thái Lan đâm nhiều nhát vào người bị hại, dùng mỏ lết kim loại đánh vào chân, khiến bị hại chết, thể hiện thái độ hung hãn, côn đồ, xâm hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ; gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân, không gì có thể bù đắp được.

Do vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Đánh giá hành vi, vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn D là hai anh em, đóng vai trò tích cực trong việc thực hiện tội phạm, lái tàu cá đưa các bị cáo khác đuổi theo tàu chở bị hại gây án nên mức hình phạt cao hơn so với các bị cáo khác. Bị cáo D và gia đình tích cực trong việc tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được xem xét giảm nhẹ đáng kể hình phạt hơn so với các bị cáo khác trong vụ án.

Các bị cáo Thạch T2, Trần Văn Q đóng vai trò tích cực trong vụ án, chỉ sau hai anh em Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn D điều khiển tàu đuổi theo bị hại, thể hiện qua việc T2 lấy dao Thái Lan và dao bấm để ra sàn tàu cho các bị cáo sử dụng đánh bị hại, Q yêu cầu các bị cáo khác đưa lại dao để T3 và M dùng máy cắt kim loại làm cho sắc nhọn hơn, sử dụng đánh bị hại; nên mức hình phạt cao hơn so với các bị cáo còn lại.

Các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3 ngoài việc tích cực cùng các bị cáo khác dùng dao gây án, còn trực tiếp dùng máy cắt kim loại làm cho dao sắc nhọn hơn để các bị cáo khác sử dụng đánh bị hại nên cần quyết định mức hình phạt nghiêm khắc đủ để cảnh tỉnh, cải tạo, giáo dục các bị cáo.

Các bị cáo Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C cùng các bị cáo khác cầm dao sang tàu tìm đánh bị hại, nhưng đến nơi thì các bị cáo khác đã đâm gục bị hại nên tản ra chỗ khác đe doạ, đánh các thuyền viên khác trên tàu, vai trò hạn chế hơn nên mức án đối với hai bị cáo này nhẹ hơn so với các bị cáo khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc thành phần nhân dân lao động có hoàn cảnh khó khăn, đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, ngoài bị các D, T1 thì các bị cáo còn lại có trình độ học vấn thấp nên hạn chế trong nhận thức pháp luật nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn M được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

[5.1] Tại phiên tòa, đại diện bị hại bà Nguyễn Thị Thu S2 yêu cầu các bị cáo bồi thường 480.000.000 đồng (gồm: chi phí mai táng, chi phí cấp dưỡng các con chưa thành niên của bị hại, tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm). Các bị cáo nhất trí với yêu cầu bồi thường này vì đây là các chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật, tự nguyện thoả thuận thống nhất với đại diện hợp pháp của bị hại về số tiền bồi thường và phân chia việc bồi thường theo phần như sau: tổng số tiền 08 bị cáo phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thu S2 đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Quốc T5 là 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng); mỗi bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Trước và tại phiên toà, các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại như sau: bị cáo D 40.000.000 đồng, bị cáo M 20.000.000 đồng, bị cáo T1 10.000.000 đồng, các bị cáo T3, C, S1 2.000.000 đồng/người. Khoản tiền đã bồi thường được trừ vào phần trách nhiệm bồi thường của từng bị cáo phải thi hành.

5.2. Thỏa thuận giữa các bị cáo với đại diện hợp pháp của bị hại về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án trên cơ sở tự nguyện, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước và lợi ích chung của xã hội, cộng đồng hay người thứ ba, nên có cơ sở để Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 246 Bộ luật Tố tụng

dân sự; trên cơ sở các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm.

[6] Về xử lý vật chứng:

Cần tuyên tịch thu tiêu huỷ: 06 (Sáu) con dao Thái Lan kích thước 0,02x0,21m, 01 (Một) con dao Thái Lan kích thước 0,02x0,18m, 01 (Một) con dao bằng kim loại màu đen, kích thước 0,38x0,07m là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T101 (Một) điện thoại di động Oppo A54 sê-ri: WWSOUKCEAQLBP7DQ; cho bị cáo Nguyễn Văn D 01 (Một) điện thoại di động Oppo màu đen, sê-ri: Y55TGQJJYDIRYDFU là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.

[8] Các vấn đề liên quan:

Kết quả điều tra còn xác định các bị cáo Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C còn có hành vi tấn công các ông Nguyễn Thành C1, Nguyễn Ngọc Q3 gây xây xát ngoài da. Các ông C1, Q3 không yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu không xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với các bị cáo Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C về hành vi này là có căn cứ.

Bị hại Nguyễn Quốc T5 trong quá trình xô xát đánh nhau với Nguyễn Minh Q2 đã dùng tuốc nơ vít đâm Q2 một nhát gây thương tích 63%, có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nhưng T5 đã chết nên Cơ quan điều tra ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 104/QĐ ngày 25/01/2024 đối với hành vi này là có căn cứ. Cơ quan điều tra cũng đã ra Quyết định số 01/QĐ-XPHC-Đ1 ngày 26/01/2024 xử phạt hành chính đối với Nguyễn Minh Q2 về hành vi Cố ý gây thương tích theo quy định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T1, Thạch T2, Trần Văn Q, Nguyễn Văn M, Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C phạm tội “Giết người”.

1.1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 15 (Mười lăm) năm tù, tính từ ngày 08/10/2023.

1.2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 17 (Mười bảy) năm tù, tính từ ngày 08/10/2023.

1.3. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Thạch T2 16 năm (M2 sáu) năm tù, tính từ ngày 08/10/2023.

1.4. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn Q 15 (Mười lăm) năm tù, tính từ ngày 08/10/2023.

1.5. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 15 (Mười lăm) năm tù, tính từ ngày 08/10/2023.

1.6. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm T3 15 (Mười lăm) năm tù, tính từ ngày 08/10/2023.

1.7. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S1 13 (Mười ba) năm tù, tính từ ngày 08/10/2023.

1.8. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc C 13 (Mười ba) năm tù, tính từ ngày 08/10/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ các Điều 246, 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự; công nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tính mạng giữa các bị cáo với đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên toà. Các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Quốc T5 là bà Nguyễn Thị Thu S2 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng) thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, trong đó mỗi bị cáo phải chịu phần trách nhiệm bồi thường 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Cụ thể như sau:

2.1. Bị cáo Nguyễn Văn D đã bồi thường 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), nên có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

2.2. Bị cáo Nguyễn Văn T1 đã bồi thường 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), nên có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

2.3. Bị cáo Nguyễn Văn M đã bồi thường 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), nên có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

2.4. Các bị cáo Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C đã bồi thường mỗi người 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), nên có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường mỗi người 58.000.000 đồng (Năm mươi tám triệu đồng).

2.5. Các bị cáo Thạch T2, Trần Văn Q có nghĩa vụ bồi thường mỗi người 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 06 (Sáu) con dao Thái Lan kích thước: 0,02x0,21m; 01 (Một) con dao Thái Lan kích thước 0,02x0,18m; 01 (Một) con dao kim loại màu đen kích thước 0,38x0,07m.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (Một) điện thoại di động Oppo A54, sê-ri: WWSOUKCEAQLBP7DQ; cho bị cáo Nguyễn Văn D 01 (Một) điện thoại di động Oppo màu đen, sê-ri: Y55TGQJJYDIRYDFU.

Toàn bộ vật chứng đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 42/BB-CTHADS ngày 28/02/2024 giữa Phòng PC 02 Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

4. Án phí sơ thẩm:

4.1. Bị cáo Nguyễn Văn D nộp 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

4.2. Bị cáo Nguyễn Văn T1 nộp 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

4.3. Bị cáo Nguyễn Văn M nộp 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

4.4. Các bị cáo Nguyễn Lâm T3, Nguyễn Văn S1, Lê Quốc C nộp mỗi người 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm

nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

4.5. Các bị cáo Thạch T2, Trần Văn Q nộp mỗi người 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

5. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (24/6/2024), bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
    tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Minh Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về vụ án hình sự sơ thẩm (tội giết người)

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Tội Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D và đồng phạm phạm tội Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger