|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:66/2024/HS-ST
Ngày: 21/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thu
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Chi - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: ông Trần Tấn Bửu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 512/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Thành Q, sinh năm: 1985; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: T; Nơi sinh: An Giang; Nơi thường trú: B đường H, khóm F, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Họ và tên cha: Đặng Văn Ú, sinh năm 1962 (sống); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1964 (sống); A, em ruột: có 02 người; Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: chưa
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Lê Văn H, sinh năm 1959
Địa chỉ: C đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị Kim A
Địa chỉ: cạnh cây xăng số I, đường N, khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Thành Q, Trần Quốc V và Trần Thị Kim A là người quen biết với nhau, Kim A nhiều lần cho Q mượn tiền.
Do không có phương tiện đi lại nên Q đã nhờ V giới thiệu đến gặp ông Lê Văn H, ở địa chỉ: C, N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ để thuê xe mô tô.
Ông H đồng ý cho Q thuê một xe mô tô hiệu AIR BLADE màu đen bạc biển số 65B2-198.86 với giá 100.000 đồng/ngày và cứ năm ngày thu tiền một lần, Q viết giấy mướn xe mô tô ghi ngày 04/3/2019 rồi nhận xe mô tô và đưa giấy mướn xe cho ông Hoàng g. Sau đó ông H nhờ V thu tiền thuê xe của Q, V thu tiền được 03 lần thì Q không đóng tiền thuê xe mô tô và V không tìm được Q nên báo cho ông H biết, ông H nhờ V đi tìm Q nhưng không gặp.
Sau khi thuê xe mô tô của ông H để sử dụng đến đầu tháng 4/2019 Q hỏi mượn Kim A số tiền 35.000.000 đồng và Kim A đã cho Q mượn với lãi xuất là 05% mỗi tháng, không làm giấy mượn và giao nhận tiền. Tiếp tục, đến ngày 12/4/2019, Q gọi điện thoại cho Kim A để hỏi mượn số tiền 15.000.000 đồng, do Q còn nợ Kim A số tiền 35.000.000 đồng chưa trả nên Kim A yêu cầu Q phải có vật thế chấp mới cho Q mượn thêm tiền. Đến trưa ngày 12/4/2019, Q một mình điều khiển xe mô tô biển số 65B2-198.86 của ông H đến nhà của Kim A tại địa chỉ cạnh cây xăng số I, đường N, khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ rồi thế chấp xe mô tô biển số 65B2-198.86 cho Kim A để mượn số tiền 15.000.000 đồng, có làm giấy biên nhận tiền, Q hẹn vài ngày trả tiền và lấy lại xe mô tô nên Kim A cho Q mượn tiền không lấy lãi. Sau khi mượn tiền của Kim A thì Q không có tiền trả và chuộc xe mô tô lại nên Q bỏ trốn.
Đến đầu tháng 9/2019, khi Kim A cho V biết việc Q thế chấp xe mô tô để mượn tiền của Kim A và V đã nói cho ông H biết. Sau đó ông H đến nhà Kim A thì phát hiện xe mô tô biển số 65B2-198.86 tại nhà bà Kim A nên ngày 08/9/2019 ông H đến Công an phường C, thành phố Cần Thơ trình báo sự việc.
Quá trình điều tra, Đặng Thành Q đã bỏ trốn qua nhiều địa phương khác nhau và đã bị bắt tạm giam vào ngày 27/5/2024. Tại Cơ quan điều tra, Đặng Thành Q khai nhận đã thuê xe mô tô của ông Lê Văn H để sử dụng làm phương tiện đi lại từ ngày 04/3/2019. Đến ngày 12/4/2019, do Q mượn tiền của Kim A để tiêu xài cá nhân thì cần phải có vật thế chấp cho Kim A thì Kim A mới cho Q mượn tiền nên Q đã sử dụng xe mô tô biển số 65B2-198.86 của ông H để làm vật thế chấp cho Kim A để mượn số tiền 15.000.000 đồng, do không có tiền trả cho Kim A và chuộc lại xe mô tô biển số 65B2-198.86 nên Q bỏ trốn.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Cần Thơ đã tiến hành lấy lời khai những người có liên quan và thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài liệu có liên quan để phục vụ công tác định giá tài sản và giám định nhằm làm rõ hành vi vi phạm của các đối tượng này theo quy định của pháp luật.
Kết luận định giá tài sản số 55 ngày 25/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản quận B kết luận xe mô tô hiệu Air Blade FI, màu đen bạc, biển số 65B2-198.86 trị giá 19.500.000 đồng.
Kết luận giám định số 167/KLGĐ-PC09 ngày 06/12/2019 của Phòng K Công an T1 đối với chữ ký và chữ viết mang tên Đặng Thành Q viết tay trên tờ giấy tập học sinh ký hiệu A, chữ ký và chữ viết mang tên Đặng Thành Q viết tay trên Biên nhận tại mục B. BÊN NHẬN TIỀN và tại mục BÊN NHẬN có chữ ký ghi họ tên Đặng Thành Q, ký hiệu M. Kết luận: “2- Chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu M do cùng một người viết ra.”
* Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô biển số 65B2-198.86 hiệu AIRBLADE màu đen bạc, số khung: LHJF180XAY166168, số máy: JF27E0205978. Cơ quan CSĐT Công an quận B đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại xe mô tô biển số 65B2-198.86 cho ông Lê Văn H.
Về trách nhiệm dân sự: Trần Thị Kim A và Đặng Thành Q đã giải quyết xong. Ông Lê Văn H đã nhận lại tài sản nên ông H, bà Kim A không yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSBT ngày 30/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Đặng Thành Q và về tội “Lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tương ứng. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Tuyên bố: bị cáo Đặng Thành Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Đặng Thành Q mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại xe, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận tiền từ bị cáo và không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện, trong năm 2019 bị cáo Đặng Thành Q có vay tiền của Kim A và để đảm bảo cho việc vay tiền, Đặng Thành Q dùng xe mô tô biển số 65B2-198.86 mà bị cáo thuê của ông Lê Văn H để thế chấp cho Kim A nhằm đảm bảo cho việc vay tiền. Sau đó, ông H biết được việc bị cáo mang xe đã thuê của ông H mang đi cầm cho Kim A nên ông H báo cơ quan chức năng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 55 ngày 25/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản quận B kết luận xe mô tô hiệu Air Blade FI, màu đen bạc, biển số 65B2-198.86 trị giá 19.500.000 đồng.
Kết luận giám định số 167/KLGĐ-PC09 ngày 06/12/2019 của Phòng K Công an T1 đối với chữ ký và chữ viết mang tên Đặng Thành Q viết tay trên tờ giấy tập học sinh ký hiệu A, chữ ký và chữ viết mang tên Đặng Thành Q viết tay trên Biên nhận tại mục B. BÊN NHẬN TIỀN và tại mục BÊN NHẬN có chữ ký ghi họ tên Đặng Thành Q, ký hiệu M. Kết luận: “2- Chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết trên tài liệu cần giám định ký hiệu M do cùng một người viết ra".
Thông qua việc thuê mướn xe của ông H rồi bị cáo mang xe đi thế chấp cho bà Trần Thị Kim A để vay tiền khi chưa được sự đồng ý của ông H nên hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về lượng hình: Việc lấy tài sản của người khác mang đi thế chấp khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo lợi dụng sự tin tưởng của bị hại để mang tài sản của bị hại đi thế chấp. Vì vậy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: thống nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: bị cáo Đặng Thành Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, có quyền kháng cáo. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm./.
Áp dụng: khoản 1 Điều 175; Điều 38, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1, Điều 51, Bộ luật Hình sự.
Điều 47, Điều 106, Điều 326, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Thành Q 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2024.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận tiền khắc phục hậu quả xong nên không xem xét.
Công nhận việc trả lại tài sản là mô tô hiệu Air Blade FI, màu đen bạc, biển số 65B2-198.86 giữa Công an quận B với ông Lê Văn H.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Quốc |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
