Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẠ HÒA

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 66/2024/HSST

Ngày 25/11/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hưng Thủy

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thiết Hùng

2. Ông Nguyễn Văn Tiệm

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phí Lê Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Nguyễn Thị Thu Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST- HS, ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Hữu T; Sinh ngày: 25/02/1981 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Hữu T1 (đã chết) và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1960. Vợ: Nguyễn Thị L (đã chết); Bị cáo có 03 con lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2015; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là thứ nhất;

- Tiền án: 01 tiền án: Bản án số 24/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Thưởng 02 năm 9 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt ngày 05/8/2019). Bản án này xác định T phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm”.

- Tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số: 01/2022/HSST ngày 13/01/2022 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt T 05 năm tù về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng”; Bản án số: 15/2007/HSST ngày 16/3/2007 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt T 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Bản án số: 58/2011/HSST ngày 29/7/2011 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt Thưởng 9 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Bản án số 58/2012/HSST ngày 24/7/2012 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 58/2011/HSST ngày 29/7/2011 của Toà án huyện L buộc T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 năm 9 tháng tù; Tại quyết định số 2223 ngày 28/8/2009 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào có sở chữa bệnh, thời hạn 12 tháng.

Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện đang chấp hành hình phạt tù của Bản án số: 01/2022/HSST ngày 13/01/2022 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tại trại giam Xuân Nguyên - Cục C1 - Bộ C2.

2. Họ và tên: Giáp Văn Q; Sinh ngày: 25/5/1987 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: khu B xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giáp Văn P (đã chết) và bà Trịnh Thị C, sinh năm 1957. Vợ: Hoàng Thị L1, sinh năm 1988; Bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2019; Anh chị em ruột: có 06 người, bị cáo là thứ năm;

Tiền án - Tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án phúc thẩm số: 24/2021/HSPT ngày 19/3/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Q 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số: 67/2011/HSST ngày 30/9/2011 và 03/10/2011 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Q 04 năm tù về tội “ Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện đang chấp hành hình phạt tù của Bản án phúc thẩm số: 24/2021/HSPT ngày 19/3/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tại Trại giam Y - Cục C3 - Bộ C2.

(Các bị cáo hôm nay có mặt tại phiên Tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Hữu T là bà Bùi Thị Thanh N - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1980;

    Địa chỉ: Khu A xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

  2. Chị Nguyễn Thu H1, sinh năm 2004;

    Địa chỉ: Khu C xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 06/01/2020 đến ngày 29/3/2020, Giáp Văn Q, sinh năm 1987, trú tại khu 2 xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ cùng các đồng phạm đã 14 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn các huyện Đ, T, H, tỉnh Phú Thọ. Trong đó có 02 lần, Q và Vũ Hữu T, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng nhau trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Chiều ngày 05/01/2020, T đón ô tô khách đến nhà Q ở khu B xã Đ, huyện T chơi. Tại đây, T rủ Q đi lên huyện Đ, tỉnh Phú Thọ xem nhà nào có sơ hở để trộm cắp tài sản, Q đồng ý. Khoảng 3 giờ sáng ngày 06/01/2020, Q điều khiển xe mô tô BKS: 98E1-519.12 của mình chở T đi lên địa bàn huyện Đ. Khi đi đến địa phận khu A xã M, T nhìn thấy trong sân nhà anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1980 có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đen BKS: 19E1-208.87 để ở hành lang giáp nhà và bếp. Thấy nhà anh N1 không có cổng, tường rào bảo vệ, T bảo Q dừng xe, đứng gần nhà văn hóa khu A xã M cảnh giới còn T đi bộ vào trong nhà anh N1. Khi đến chỗ để xe, thấy xe không khoá cổ, không khoá càng, T dắt chiếc xe trên ra chỗ vị trí Q đứng, tháo rắc cắm nối dây điện dưới đầu xe, đấu nối dây rồi khởi động xe. Sau khi xe nổ máy, Q điều khiển xe của mình còn T điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được đi về nhà Thưởng ở huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khi cách nhà T khoảng 25km, cả hai dừng lại ăn sáng. T dùng tay cậy mở cốp xe vừa trộm cắp được thì thấy bên trong có 01 đăng ký xe cùng số tiền 10.000.000 đồng. Thưởng lấy 5.000.000 đồng, đưa cho Q 5.000.000 đồng. Do có ý định giữ chiếc xe này lại để làm phương tiện đi lại, nên T đưa cho Q 4.000.000 đồng, bảo Q để lại chiếc xe cho T, Q đồng ý. Sau đó, T vào 01 quán sửa xe (không xác định được địa chỉ cụ thể) thay ổ khoá điện kèm theo chìa khoá rồi đi xe về nhà. Sau khi dùng làm phương tiện đi lại một thời gian, T bán chiếc xe trên cho em trai là Vũ Hữu M, sinh năm 1984 ở thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang với giá 8.000.000 đồng. Khi mua xe, anh M không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có. Một thời gian sau, anh M mang cầm cố chiếc xe trên cho anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1987 ở xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang lấy 23.000.000 đồng. Sau khi biết chiếc xe trên là vật chứng của vụ án, anh T2 đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện H.

Tại bản KLĐG tài sản số 62 ngày 25/5/2020, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: Chiếc xe hiệu Honda Airblade BKS: 19E1-208.87 có trị giá 29.400.000 đồng.

Ngày 05/6/2020, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Giáp Văn Q về tội trộm cắp tài sản. Đối với Vũ Hữu T, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập nhưng không được do T vắng mặt tại địa phương. Ngoài lời khai của Q không có căn cứ nào khác xác định T là người cùng Q trộm cắp chiếc xe mô tô BKS: 19E1-208.87 của anh N1, nên Cơ quan điều tra chưa khởi tố bị can đối với T. Do thời điểm này, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đang khởi tố, bắt tạm giam Q về hành vi trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện H để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với Vũ Hữu T, thông qua các biện pháp nghiệp vụ, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H xác định T hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Nguyên - Bộ C2 theo Bản án số: 01/2022/HSST ngày 13/01/2022 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Sau khi tiến hành lấy lời khai, T thừa nhận hành vi cùng Q trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Honda Airblade BKS: 19E1-208.87 của anh Nguyễn Văn N1 như đã nêu trên. Ngày 10/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H khởi tố bị can đối với Vũ Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 - BLHS.

Vụ thứ hai: Chiều ngày 06/02/2020, T đón ô tô khách đến nhà Q chơi. Khoảng 00 giờ ngày 07/02/2020, T rủ Q đi trộm cắp tài sản. Q đồng ý, điều khiển xe mô tô BKS: 98E1-519.12 của mình chở T đi hướng lên địa phận huyện Đ rồi đi dọc theo các tuyến đường liên xã để trộm cắp tài sản. Khoảng 01 giờ cùng ngày, khi đi đến nhà chị Nguyễn Thu H1, sinh năm 2004 ở khu C xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, T thấy trong sân nhà chị H1 có để 03 chiếc xe mô tô, xe gắn máy. Quan sát thấy sát bên phải nhà chị H1 có khoảng đất trống, không có tường rào, T bảo Q đứng ở ven đường cảnh giới còn mình đi qua bãi đất trống vào sân nhà chị H1. Thấy chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPEO, kiểu dáng xe wave màu xanh BKS: 19AD - 025.02 không khoá cổ, không khoá càng nên T dắt chiếc xe trên qua bãi đất trống đến chỗ Q đợi. Sau khi đấu nối dây dẫn điện ở đầu xe, T điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được còn Q đi xe của mình đi về nhà Q. Sau đó, Q bảo T để lại chiếc xe này cho Q sử dụng, T đồng ý. Chiếc xe trên đã bị Cơ quan CSĐT- Công an huyện H thu giữ trong quá trình điều tra.

Tại bản KLĐG tài sản số 67 ngày 22/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận “Trị giá xe gắn máy nhãn hiệu ESPEO, kiểu dáng Wave màu sơn xanh biển số: 19AD-025.02 thời điểm ngày 07/02/2020 là 11.250.000 đồng”.

Ngày 02/7/2020, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Quá trình điều tra, Q không thừa nhận hành vi cùng T trộm cắp chiếc xe gắn máy của chị H1 mà chỉ khai được T cho lại chiếc xe này, còn T bỏ trốn nên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với Q, T. Ngày 02/9/2020 của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự nêu trên.

Sau khi Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ làm việc được với T, Q, cả hai đã thừa nhận cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPEO, biển số 19AD-025.02. Ngày 03/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ đã phục hồi điều tra vụ án, khởi tố bị can đối với Giáp Văn Q và Vũ Hữu T về hành vi trộm cắp tài sản ngày 07/02/2024 đồng thời chuyển vụ án trên đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện H để tiếp tục giải quyết. Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã tiến hành nhập vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai bị hại về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản trộm cắp.

Đối với hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS: 19E1-208.87 cùng số tiền 10.000.000 đồng có trong cốp xe. Ngày 30/9/2021, Toà án nhân dân huyện Hạ Hoà tiến hành xét xử đối với Giáp Văn Q về hành vi trộm cắp chiếc xe này cùng các vụ trộm cắp khác do Q thực hiện và tuyên phạt Q 9 năm tù. Bị cáo Q kháng cáo tại bản án phúc thẩm số: 24/2021/HSPT ngày 19/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do vậy, trong vụ án chỉ xem xét trách nhiệm hình sự của Q đối với vụ trộm cắp tài sản là chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPEO, biển số 19AD-25.02 trị giá 11.250.000 đồng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Q, T có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên”, bị cáo Q không bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô hiệu Honda Airblade BKS: 19E1-208.87 cho anh Nguyễn Văn N1, trả lại chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPEO, biển số: 19AD-025.02 cho chị Nguyễn Thu H1. Đối với chiếc xe mô tô BKS: 98E1-519.12 của Q sử dụng để đi trộm cắp tài sản, Q khai đã bán cho T (không nhớ thời gian cụ thể) với giá 30.000.000 đồng. Sau khi mua lại chiếc xe trên, T đã bán lại cho một người (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) nên cơ quan điều tra không thu giữ được.

Về dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác.

Về điều kiện kinh tế: Các bị cáo hiện nay đều đang chấp hành hình phạt tù, không có tài sản riêng có giá trị.

Tại bản cáo trạng số: 59/CT-VKSHH ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa đã truy tố bị cáo Vũ Hữu T về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Giáp Văn Q về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố, luận tội và tranh luận. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Hữu T và bị cáo Giáp Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Đề nghị áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và khoản 1 Điều 56 - BLHS (Đối với bị cáo Vũ Hữu T).

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Hữu T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 01/2022/HSST ngày 13/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thành hình phạt chung của bản án. Buộc bị cáo T phải chấp hành chung cho cả hai bản án là từ 09 năm đến 09 năm sáu tháng tù, khấu trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2021 đến ngày 04/6/2021của bán án số: 01/2022/HSST ngày 13/01/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án là ngày 15/4/2022.

Đề nghị áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và khoản 1 Điều 56 - BLHS (Đối với bị cáo Giáp Văn Q).

Đề nghị xử phạt bị cáo Giáp Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án phúc thẩm số: 24/2021/HSPT ngày 19/3/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ thành hình phạt chung của bản án. Buộc bị cáo Q phải chấp hành chung cho cả hai bản án là từ 10 năm 03 tháng đến 10 năm 06 tháng. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 29/3/2020.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại điều luật cho bị cáo T và bị cáo Q.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47; Khoản 1 Điều 48 - BLHS; Khoản 2, Đ a, b khoản 3 Điều 106 - BLTTHS;

Đề nghị xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đa trả cho chị Nguyễn Thu H1 01 xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO màu sơn xanh số máy 39FMB 3456132, số khung B5PEKA 456132 biển số xe 19AD – 02502 theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu lập ngày 15/7/2020 là hợp pháp.

Đề nghị xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Phú Thọ đã trả cho anh Nguyễn Văn N1 01 xe máy biển kiểm soát: 19E1 - 20887 nhãn hiệu honda số loại AIRBLADE màu sơn đen bạc có số khung là RLHJFG300FZ339587, số máy là JFG3E - 1339599 xe đã cũ qua sử dụng và 01 đăng ký xe biển kiểm soát 19E1 - 20887 mang tên Nguyễn Văn N1 theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu lập ngày 17/7/2020 là hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: đề nghị không đặt ra giải quyết.

Về án phí hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Đối với bị cáo Giáp Văn Q) và điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Đối với bị cáo Vũ Hữu T).

Đề nghị buộc bị cáo Giáp Văn Q phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Đề nghị miễn toàn bộ án phí cho bị cáo Vũ Hữu T do là hộ nghèo.

Tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn thừa nhận đã có hành vi phạm tội như đã nêu trong bản cáo trạng, không có lời bào chữa nào khác và xin HĐXX xem xét chiếu cố giảm nhẹ hình phạt.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo T nhất trí với bản cáo trạng của đại diện viện kiểm sát nhân dân, huyện H, tỉnh Phú Thọ đã nêu và xác định bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị HĐXX xem xét, cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ và xem xét đến hoàn cảnh gia đình để áp dụng các quy định của pháp luật xử cho bị cáo T với mức án thấp nhất so với mức đề xuất của Kiểm sát viên và đề nghị miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, đã khai báo đầy đủ, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bằng những lời khai của các bị cáo, lời khai của những người bị hại, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận.

Trong khoảng thời gian từ ngày 06/01/2020 đến ngày 07/02/2020, Giáp Văn Q và Vũ Hữu T đã 02 lần cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 06/01/2020 tại nhà anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1980 ở xã M, huyện Đ, Q cùng T trộm cắp của anh N1 chiếc xe mô tô hiệu Honda Airblade BKS 19E1-208.87 trị giá 29.400.000 đồng cùng số tiền 10.000.000 đồng để trong cốp xe.

Lần thứ hai: Ngày 07/02/2020, tại nhà ở của chị Nguyễn Thu H1, sinh năm 2004 ở khu C xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, T cùng Q đã trộm cắp của chị H1 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPEO, kiểu dáng Wave màu sơn xanh biển số 19AD-025.02 trị giá 11.250.000 đồng. Như vậy, tổng trị giá tài sản Giáp Văn Q, Vũ Hữu T trộm cắp có trị giá là 50.650.000 đồng, (Năm mươi triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Đối với hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô BKS: 19E1-208.87 trị giá 29.400.000 đồng cùng số tiền 10.000.000 đồng, Q đã bị Toà án nhân dân huyện Hạ Hoà đưa ra xét xử nên lần phạm tội này, Q chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với vụ trộm cắp chiếc xe gắn máy biển số 19AD - 025.02 trị giá 11.250.000 đồng, Vũ Hữu T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với cả hai vụ trộm cắp với tổng trị giá tài sản là 50.650.000 đồng.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn trong đó Vũ Hữu T giữ vai trò là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội còn Giáp Văn Q giữ vai trò giúp sức tích cực.

Lời khai của các bị cáo, lời khai của người bị hại phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Vũ Hữu T phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Giáp Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

"Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

  1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

    g) Tái phạm nguy hiểm".

Cáo trạng của VKSND huyện Hạ Hòa truy tố bị cáo Vũ Hữu T và Giáp Văn Q về tội danh và điều luật như đã viện dẫn là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo đã ngang nhiên xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tội phạm do các bị cáo thực hiện đã gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân, xâm phạm đến an ninh, trật tự an trên toàn xã hội, nhất là trong thời gian gần đây, loại tội phạm này đã diễn ra ở nhiều nơi trên địa bàn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã đưa ra xét xử nhiều vụ án về loại tội phạm này, nhằm tuyên truyền, nhưng vẫn chưa có chiều hướng giảm vì vậy vụ án này cần phải đưa ra xét xử kịp thời, thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung của tội phạm.

Xét về nhân thân: Đối với bị cáo Vũ Hữu T có một nhân thân rất xấu đã từng bị các tòa án xét xử về nhiều tội danh khác nhau. Hiện nay bị cáo vẫn đang phải chấp hành án 05 năm tù về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng”, theo bản án số: 01/2022/HSST ngày 13/01/2022 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cải tà quy chính mà tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, lợi dụng sơ hở của người khác để cùng với các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án và nhân thân của bị cáo nên cần có một hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của mình mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Vũ Hữu T1 là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương, Huân chương chiến sĩ phóng, nên HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 - BLHS, nhưng bị cáo cũng phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 - BLHS đó là phạm tội 02 lần trở lên.

Đối với bị cáo Giáp Văn Q được xác định không có tiền án, tiền sự, nhưng cũng có nhân thân rất xấu cũng đã từng bị các tòa án xét xử về nhiều tội danh khác nhau và hiện nay bị cáo cũng đang phải chấp hành án 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Theo bản án phúc thẩm số: 24/2021/HSPT ngày 19/3/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cải tà quy chính mà tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, lợi dụng sơ hở của người khác để cùng với các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án và nhân thân của bị cáo nên cũng cần phải có một hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của mình mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 - BLHS, ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Giáp Văn P tham gia chiến tranh bảo về Tổ Q và làm nhiệm vụ Quốc T3 được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo quy định, nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 51 - BLHS.

Về tổng hợp hình phạt: Đối với bị cáo T hiện nay đang chấp hành bản án số: 01/2022/HSST ngày 13/01/2022 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt T 05 năm tù về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng” và bị cáo Q đang chấp hành bản án phúc thẩm số: 24/2021/HSPT ngày 19/3/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Q 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, các bản án này đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 - BLHS về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án thì tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử, sau đó quyết định thành hình phạt chung của bản án.

Trong vụ án này có anh Vũ Hữu M, Hoàng Văn T2, trong quá trình điều tra xác định anh T2, anh M không liên quan đến hành vi phạm tội của Q, T do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy tại khoản 5 Điều 173 - BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Tuy nhiên hiện nay các bị cáo đang chấp hành án phạt tù, không có tài sản riêng gì, nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung theo điều luật cho các bị cáo là phù hợp.

Tại phiên tòa hôm nay trợ giúp viên pháp lý, bào chữa cho bị cáo T cũng nhận thức rõ hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng, không có lời bào chữa, tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị miễn toàn bộ hình phạt bổ sung và tiền án phí cho bị cáo T. Xét đề nghị của trợ giúp viên pháp lý là phù hợp, nên HĐXX cần chấp nhận.

[5]. Về vật chứng:

Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại chiếc xe mô tô hiệu Honda Airblade BKS: 19E1-208.87 cho anh Nguyễn Văn N1 và Cơ quan điều tra Công an huyện Đ trả lại chiếc xe gắn máy nhãn hiệu ESPEO, biển số: 19AD-025.02 cho chị Nguyễn Thu H1 là hợp pháp, nên cần xác nhận.

Đối với chiếc xe mô tô BKS: 98E1-519.12 của Q sử dụng để đi trộm cắp tài sản, Q khai đã bán cho T (không nhớ thời gian cụ thể) với giá 30.000.000 đồng. Sau khi mua lại chiếc xe trên, T đã bán lại cho một người (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) nên cơ quan điều tra không thu giữ được do đó không đề cập xử lý trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác do đó HĐXX không đặt ra giải quyết.

[7]. Về án phí: Bị cáo T là hộ nghèo nên HĐXX miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.

Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại và người bào chữa cho bị cáo T có quyền kháng cáo theo luật định.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên VKSND huyện Hạ Hòa tại phiên tòa, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và khoản 1 Điều 56 - BLHS (Đối với bị cáo Vũ Hữu T).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 và khoản 1 Điều 56 - BLHS (Đối với bị cáo Giáp Văn Q).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 - BLHS; Điểm a, b khoản 3 Điều 106; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ QH (Đối với bị cáo Giáp Văn Q).

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ QH (Đối với bị cáo Vũ Hữu T)..

Xử:

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hữu T và bị cáo Giáp Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Vũ Hữu T 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 05 năm tù của bản án số: 01/2022/HSST ngày 13/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thành hình phạt chung của bản án. Buộc bị cáo Vũ Hữu T phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam của bản án số: 01/2022/HSST ngày 13/01/2022 từ ngày 05/02/2021 đến ngày 04/6/2021. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án là ngày 15/4/2022.

Xử phạt bị cáo: Giáp Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 năm tù của bản án phúc thẩm số: 24/2021/HSPT ngày 19/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thành hình phạt chung của bản án. Buộc bị cáo Giáp Văn Q phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2020.

[3] Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo Vũ Hữu T và Giáp Văn Q.

[4] Về vật chứng:

Xác nhận Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đã trả cho chị Nguyễn Thu H1 01 xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO màu sơn xanh số máy 39FMB 3456132, số khung B5PEKA 456132 biển số xe 19AD – 02502 theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu lập ngày 15/7/2020 là hợp pháp.

Xác nhận Công an huyện H, tỉnh Phú Thọ đã trả cho Nguyễn Văn N1 01 xe máy biển kiểm soát: 19E1-20887 nhãn hiệu honda số loại AIRBLADE màu sơn đen bạc có số khung là RLHJFG300FZ339587, số máy là JFG3E-1339599 xe đã cũ qua sử dụng và 01 đăng ký xe biển kiểm soát 19E1- 20887 mang tên Nguyễn Văn N1 theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu lập ngày 17/7/2020 là hợp pháp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không đặt ra giải quyết.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo Giáp Văn Q phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vũ Hữu T.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo T (có mặt) được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Những người bị hại (vắng mặt) được quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Hạ Hòa;
  • - CQCSĐT Công an huyện Hạ Hòa;
  • - Trại giam CA tỉnh;
  • - UBND xã N, Huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Đn, Huyện T, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Thi hành án HS;
  • - CCTHADS huyện Hạ Hòa;
  • - Sở tư pháp tỉnh;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Hưng Thủy

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HSST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 66/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án bị cáo Vũ Hữu T và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger