|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HSST Ngày: 24 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Công Đoàn.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thuỷ.
Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Quang Tuyển, ông Nguyễn Văn Đúng và ông Lại Văn Phong.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/HSST ngày 26/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 09/10/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh năm: 1981; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị C1, có chồng Nguyễn Văn H1; con: Có 02 lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 24/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Ông Nguyễn Minh P và ông Vũ Đức T - Luật sư Văn phòng L3 thuộc đoàn Luật sư tỉnh Nam Định; có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố M, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Xuân T2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2016 anh Đỗ Xuân T2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam là quân nhân thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H tham dự buổi gặp mặt các bạn học cùng lớp tại thành phố Hà Nội. Tại đây, anh T2 gặp anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1978 là Quân nhân thuộc Ban chỉ huy Quân sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang cùng vợ Nguyễn Thị H. Lúc này, anh T2 làm quen với Hiện nhưng H không giới thiệu tên thật mà giới thiệu tên là “H3” nên anh T2 luôn gọi Hiện là H3. Quá trình kết bạn và nói chuyện, H nói với anh T2, Hiện là con cháu của đồng chí Thượng tướng Nguyễn Huy H2 nguyên Thứ trưởng Bộ Q1. Thấy vậy anh T2 tin tưởng và xin số điện thoại, H cho anh T2 số điện thoại 0972.626.xxx là số chính chủ Hiện đang sử dụng, anh T2 lưu số điện thoại Hiện cho trong danh bạ là “Hiền 22 vk H1”.
Đầu tháng 4/2021 khi anh T2 đang làm việc với anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982 là Quân nhân thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H thì Hiện điện thoại và kể cho anh T2 biết việc Hiện mới xin cho chồng chuyển công tác về Vĩnh Phúc, được lên chức Chính trị viên Phó Tiểu đoàn. Anh T1 nghe được cuộc nói chuyện điện thoại giữa anh T2 và Hiện thì có hỏi anh T2 về Hiện thì được anh T2 giới thiệu tên là H3, bạn của anh T2 và là con cháu của đồng chí Thượng tướng Nguyễn Huy H2 nguyên Thứ trưởng Bộ Q1. Thấy anh T2 giới thiệu Hiện như vậy, bản thân anh T1 lại đang có nhu cầu chuyển hệ số lương từ Trung cấp lên Đại học nên đã đặt vấn đề để anh T2 nói chuyện, nhờ Hiện chạy chuyển hệ số lương cho anh T1. Ngày 20/4/2021 anh T1 nhắn tin SMS cho anh T2 “Anh cứ bảo với bạn anh là anh có thằng em chuyên nghiệp nó có nhu cầu chuyển bằng lương Đại học xem thế nào anh nhé. Cảm ơn anh”. Ngày 24/4/2021 anh T1 nhắn tin SMS tiếp cho anh T2 “Anh nhớ hỏi cho em việc kia nhé không lại quên” anh T2 đồng ý nhưng chưa đặt vấn đề với Hiện.
Đến đầu tháng 7/2021, anh T2 đặt vấn đề nhờ Hiện chạy chuyển hệ số lương từ Trung cấp lên Đại học cho T1 thì H nói với anh T2 là Hiện giúp được, nhưng để Hiện xem nếu nhờ được ai thì Hiện sẽ báo lại cho anh T2 biết. Tin tưởng lời Hiện nói, hồi 22 giờ 15 phút ngày 09/7/2021, anh T2 nhắn tin Z từ tài khoản Zalo của anh T2 lập bởi số điện thoại 0986.681.xxx đến tài khoản Zalo của anh T1 lập bởi số điện thoại 0346.016.xxx để thông báo cho anh T1 biết việc Hiện đã nhận lời giúp anh T1 chuyển hệ số lương.
Sáng ngày 13/7/2021 với mục đích lừa đảo anh T1 nên H điện thoại cho anh T2 nói dối là đã nhờ được người chạy chuyển hệ số lương cho anh T1 và nói anh T2 cho số điện thoại của anh T1 để Hiện trực tiếp trao đổi. Tin là thật, hồi 08 giờ 47 phút cùng ngày anh T2 sử dụng số điện thoại 0986.681.xxx của mình nhắn tin đến số điện thoại 0972.626.xxx của Hiện với nội dung “0346016943 Em Tình Ban Tài C2” để cung cấp số điện thoại 0346.016.xxx của anh T1 cho H và Hiện nhắn tin trả lời anh T2 là “ok”. Ngay sau đó anh T2 thông báo cho anh
T1 biết việc Hiện đã nhờ được người giúp chạy chuyển hệ số lương và cho Hiện số điện thoại để Hiện trao đổi với anh T1 thì anh T1 đồng ý.
Để thực hiện được mục đích Hiện sử dụng số điện thoại 0886.805.xxx, đăng ký không chính chủ để liên hệ với anh T1, nói giả giọng nam giới, xưng danh tên là T3 làm ở Bộ Q, là người được Hiện nhờ giúp anh T1 chạy chuyển hệ số lương từ Trung cấp lên Đại học. Anh T1 tin là thật và không biết người này là do Hiện giả danh nên đã trao đổi việc muốn chạy chuyển hệ số lương với người xưng danh T3 thì được T3 thông báo chi phí chạy việc là khoảng hơn 100 triệu đồng, yêu cầu chuyển trước 30 triệu đồng vào tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 mang tên Nguyễn Thị H. Anh T1 đồng ý và lưu số điện thoại 0886.805.xxx trong danh bạ điện thoại với tên “A Tuan BQP”. Sau đó, anh T1 gặp anh T2 kể lại việc người xưng danh T3 gọi điện cho anh T1 như trên. Anh T2 cũng không biết người xưng danh T3 này là do Hiện giả danh mà chỉ nghĩ người này là do Hiện giới thiệu để giúp chạy việc cho anh T1 là thật nên anh T2 khuyên anh T1 là phải hỏi rõ cụ thể tiền phí chạy việc là bao nhiêu, nếu là 100 triệu đồng thì chuyển trước 50 triệu đồng, khi nào có Quyết định thì chuyển tiếp phần còn lại thì anh T1 đồng ý. Ngay sau đó, anh T1 đã chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 của Hiện. Chuyển tiền xong, do không biết số điện thoại của Hiện để hỏi xem Hiện đã nhận được tiền chưa, nên hồi 09 giờ 36 phút cùng ngày, anh T1 nhắn tin Z cho anh T2 có nội dung “Anh hỏi chị H3 xem Tài khoản của chị ấy nhận được tiền chưa. Em chuyển 50 tr”. Đến 10 giờ 14 phút cùng ngày, anh T2 nhắn tin Zalo cho HIện với nội dung “E nó vừa ra NH chuyển tiền vào TK e, e xem nhaajn đc chưa” thì Hiện không trả lời lại bằng tin nhắn mà điện thoại cho anh T2 thông báo là đã nhận được tiền của anh T1. Sau đó vào hồi 11 giờ 58 phút cùng ngày, anh T2 nhắn tin Zalo cho anh T1 với nội dung “Ok rồi”, anh T2 còn dặn anh T1 lưu giấy chuyển tiền lại để nếu không được việc thì còn giấy tờ để đòi lại tiền và nếu anh T1 bị yêu cầu chuyển tiền thêm thì phải thông báo cho anh T2 biết thì anh T1 đồng ý. Đến chiều cùng ngày, H tiếp tục sử dụng số điện thoại 0886.805.xxx (lấy danh nghĩa T3) gọi điện thoại cho anh T1 và yêu cầu anh T1 chuyển thêm số tiền 20 triệu đồng, anh T1 đồng ý nhưng bảo để hỏi ý kiến anh T2. Do muốn che giấu hành vi phạm tội nên H nói với anh T1 là không cần phải thông báo cho anh T2 biết và cũng không được nói chuyện này với ai. Anh T1 tin tưởng và đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản nêu trên của Hiện, cũng từ thời điểm này trở đi, mỗi lần anh T1 bị Hiện yêu cầu chuyển tiền thì anh T1 không nói cho anh T2 biết.
Ngày 14/7/2021, để tạo sự tin tưởng Hiện tiếp tục giả danh T3 điện thoại cho anh T1 nói dối là việc chạy chuyển hệ số lương của anh T1 được T3 giao cho người tên P1 là cấp dưới của T3 và P1 là con gái của đồng chí Phan Văn G -
Bộ trưởng Bộ Q1. Ngay sau đó, H sử dụng số điện 0376.545.200 gọi điện đến cho anh T1, giả danh người tên P1 cấp dưới của T3, được T3 chỉ đạo làm hồ sơ, thủ tục chuyển lương cho anh T1. Anh T1 tin tưởng nên lưu số điện thoại 0376.545.xxx này vào danh bạ điện thoại với tên “E Phuong BT”. Dưới danh nghĩa P1, H tiếp tục yêu cầu anh T1 chuyển tiền vào tài khoản trên của Hiện. Anh T1 đồng ý và nhờ vợ là chị Nguyễn Thị P1 và bạn là anh Lại Đức V chuyển 02 lần, tổng số tiền là 20 triệu đồng vào tài khoản của Hiện.
Ngày 15/7/2021, để anh T1 tiếp tục tin tưởng và chuyển tiền, Hiện xưng danh T3 gọi điện video qua Zalo với anh T1 nhưng không để anh T1 nhìn mặt của mình mà để anh T1 nhìn video hình ảnh hai người nữ giới mặc trang phục Quân đội nhưng hình ảnh mờ và tối để anh T1 không nhìn rõ được ai. Hiện giới thiệu với anh T1 hai người nữ giới mặc trang phục này là P1 và H3. Tiếp đó, Hiện giả danh P1 nói với ý trêu anh T1 “Anh T1 đầu hói” rồi tắt cuộc gọi video qua Zalo. Do cần tiền để trả nợ tiền vay của bà Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1969; trú tại Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Hiện giả danh T3 gọi điện thoại cho anh T1 xin 05 triệu đồng để trả nợ. Anh T1 đồng ý, Hiện cung cấp tài khoản Ngân hàng V1 số [...] mang tên Lê Trung T3 được chị Cao Thị Kiều O, sinh năm 1991; trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang sử dụng để anh T1 chuyển tiền trả nợ cho bà N. Sau đó, anh T1 đã chuyển khoản 5.000.000 đồng vào tài khoản V1 số [...] mang tên Lê Trung T3 nêu trên có nội dung “E Tinh chuyen tra tien”. Từ thời điểm này đến ngày 30/7/2021, Hiện liên tục lấy danh nghĩa là T3 và P1 để yêu cầu anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của Hiện. Anh T1 chuyển 15 lần với tổng số tiền là 70 triệu đồng, trong đó 01 lần anh T1 nhờ anh L Đức Văn chuyển với số tiền 2.000.000 đồng, 02 lần nhờ vợ là chị Nguyễn Thị P1 chuyển với số tiền 7.000.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Tháng 08/2021, H lấy tên P1 gọi điện thoại nói dối là việc chuyển lương cho anh T1 đã có Quyết định nhưng chưa thể trao được do vướng dịch bệnh COVID.19 và gợi ý thêm cho anh T1 chạy chuyển từ ngạch quân nhân chuyên nghiệp sang ngạch sỹ quan để lừa anh T1 chuyển tiền. Anh T1 tin là thật và đồng ý nên tiếp tục bị H lấy tên T3 và P1, nhiều lần yêu cầu anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của Hiện với lý do để chạy chuyển ngạch sỹ quan cho anh T1. Tin tưởng Hiện, từ ngày 02/8/2021 đến ngày 31/8/2021 anh T1 chuyển 91 lần với tổng số tiền 583.500.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Tháng 9/2021, H lấy tên T3 gọi điện thoại cho anh T1 nói dối là đã có Quyết định về việc chuyển từ ngạch quân nhân chuyên nghiệp sang ngạch sỹ quan cho anh T1 và tiếp tục gợi ý thêm cho anh T1 chạy chức danh Trưởng Ban Tài chính Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh H. Anh T1 tin là thật nên đồng ý và tiếp tục bị H yêu cầu anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của Hiện. Tin tưởng Hiện, từ
ngày 01/9/2021 đến ngày 05/9/2021 anh T1 đã chuyển 17 lần với tổng số tiền 95.500.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Ngày 06/9/2021 với mục đích che giấu hành vi phạm tội Hiện đã nảy sinh ý định hợp thức hóa các lần anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của Hiện. Hiện lấy tên P1 điện thoại cho anh T1 nói dối là ngày 10/9/2021 sẽ có Đoàn công tác của Bộ Q1 về trao Quyết định chuyển lương và Quyết định chuyển sỹ quan có số cho anh T1. Tuy nhiên, bố của P1 (là đồng chí Phan Văn G - Bộ Trưởng Bộ Q1) yêu cầu anh T1 phải viết một Giấy cam kết thể hiện nội dung tất cả những lần anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của Hiện đều là việc trả nợ tiền vay. Anh T1 hỏi là viết số tiền bao nhiêu, H nói với anh T1 là đã chuyển bao nhiêu tiền thì viết bấy nhiêu. Do không thống kê chính xác số tiền đã chuyển vào tài khoản của H nên anh T1 chỉ áng chừng là 500 triệu đồng (số tiền thực tế anh T1 đã chuyển vào tài khoản của Hiện là 846.500.000 đồng), rồi viết giấy với nội dung là anh T1 đã chuyển 500 triệu đồng vào tài khoản của H3 để H3 xin việc cho anh T1 rồi anh T1 chụp ảnh giấy này chuyển qua Zalo cho Hiện xem. Hiện thấy nội dung anh T1 viết chưa đúng với mục đích của mình nên yêu cầu anh T1 viết lại theo nội dung là có vay của chị Nguyễn Thị H3 số tiền 500 triệu đồng, tính đến ngày 06/9/2021 anh T1 đã trả đủ cho chị H3 500 triệu đồng, bằng hình thức chuyển vào tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 mang tên “NGUYEN THI HIEN”. Với mong muốn được nhận Quyết định nên anh T1 đồng ý viết theo nội dung trên rồi gửi hình ảnh qua Zalo cho Hiện, bản chính thì anh T1 lưu giữ, còn giấy viết trước đó thì anh T1 hủy bỏ. Ngoài ra, H tiếp tục lấy tên P1 yêu cầu anh T1 chuẩn bị 05 nồi cá kho Nhân Hậu, 03 thùng đựng rượu bằng gỗ sồi loại 10L, 05 buồng chuối ngự và 30 cân gạo ngon để làm quà cho Đoàn công tác về trao Quyết định thì anh T1 đồng ý. Sau đó, H lấy tên T3 và P1 yêu cầu anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của Hiện để chạy chức danh Trưởng ban Tài chính. Tin tưởng Hiện, từ ngày 06/9/2021 đến ngày 09/9/2021 anh T1 đã chuyển 08 lần với tổng số tiền 23.000.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Ngày 10/9/2021, H lấy tên T3 gọi điện cho anh T1 nói do dịch bệnh COVID.19 và P1 bị ốm nên Đoàn Công tác của Bộ Q1 hoãn không về trao Quyết định được nhưng vẫn yêu cầu anh T1 chuyển tiền để chạy việc. Anh T1 tin tưởng đã chuyển 02 lần với tổng số tiền 9.000.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Ngày 13/9/2021, H lấy tên P1 điện thoại cho anh T1 nói dối là do Đoàn công tác của Bộ Q1 không về được mà quà anh T1 đã chuẩn bị xong nên yêu cầu anh T1 gửi các quà mà P1 dặn chuẩn bị đến người nhận là Phan Văn T4, số điện thoại 0376.545.xxx, địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Anh T1 thấy tên là Phan Văn T4 nên thắc mắc thì được P1 nói T4 là em trai của đồng chí Phan Văn G. Anh T1 tin tưởng và đã gửi dịch vụ chuyển phát
nhanh EMS 05 nồi cá kho Nhân Hậu, 03 thùng đựng rượu bằng gỗ sồi loại 10L đến thông tin người nhận trên. Sau đó, H vẫn tiếp tục lấy tên là T3 và P1 yêu cầu anh T1 chuyển tiền để chạy chức Trưởng ban T. Từ ngày 13/9/2021 đến ngày 14/9/2021, anh T1 đã chuyển 07 lần với tổng số tiền 81.500.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Ngày 15/9/2021, H lấy tên P1 điện thoại cho anh T1 nói dối là đã sắp xếp được ngày để về trao Quyết định cho anh T1, yêu cầu anh T1 viết thêm một giấy cam kết với nội dung như giấy ngày 06/9/2021, nhưng số tiền thì P1 yêu cầu anh T1 cộng thêm số tiền đã chuyển tính từ thời điểm viết giấy ngày 06/9/2021 đến ngày 15/9/2021 là thêm 250 triệu đồng, tổng là 750 triệu đồng. Anh T1 đồng ý và viết giấy với nội dung như giấy ngày 06/9/2021 chỉ khác ở số tiền vay và đã trả đủ cho H3 tính đến ngày 15/9/2021 là 750 triệu đồng. Anh T1 viết xong thì chụp ảnh gửi qua Zalo cho P1, còn bản chính thì anh T1 lưu giữ (số tiền thực tế đến ngày 15/9/2021 anh T1 đã chuyển vào tài khoản của Hiện là 962.500.000 đồng) nhưng sau đó vẫn không có người về trao Quyết định. Hiện tiếp tục lấy tên T3 và P1 yêu cầu anh T1 chuyển tiền để chạy việc, từ ngày 15/9/2021 đến ngày 17/9/2021, anh T1 đã chuyển 11 lần với tổng số tiền 97.000.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Ngày 18/9/2021, H lấy tên P1 gọi điện thoại cho anh T1 để nói dối việc hoãn trao Quyết định cho anh T1 với lý do là con của T3 bị tử vong do COVID.19. Sau đó, H yêu cầu anh T1 chuyển tiền để chạy việc. Tin tưởng Hiện, từ ngày 18/9/2021 đến ngày 21/9/2021 anh T1 đã chuyển 07 lần với tổng số tiền 39.500.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Ngày 22/9/2021, để hợp thức hóa số tiền anh T1 chuyển vào tài khoản của mình, H tiếp tục lấy tên P1 gọi điện thoại nói dối anh T1 là do anh T1 đã chuyển thêm 50 triệu đồng nên số tiền bị thay đổi từ 750 triệu đồng thành 800 triệu đồng và phải viết lại giấy cho khớp với số tiền 800 triệu đồng nhưng viết không có dấu. Anh T1 tin tưởng đã viết thêm một giấy cam kết theo hướng dẫn của Hiện với nội dung “ngày 13/7/2021, anh T1 có vay của chị Nguyen Thi H4 số tiền là 800 triệu đồng, đến ngày 22/9/2021 anh T1 đã trả hết số tiền vay 800 triệu đồng cho chị Nguyen Thi H4 bằng hình thức chuyển vào tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 mang tên NGUYEN THI HIEN”. Anh T1 viết giấy xong đã chụp ảnh gửi qua Zalo cho Hiện, còn bản chính anh T1 lưu giữ (số tiền thực tế đến ngày 22/9/2021 anh T1 đã chuyển vào tài khoản của Hiện là 1.102.500.000 đồng). Sau thời điểm này, anh T1 vẫn không thấy có người về trao quyết định nhưng Hiện vẫn tiếp tục lấy tên T3 và P1 yêu cầu anh T1 chuyển tiền để chạy việc, H yêu cầu mỗi lần anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của Hiện phải ghi nội dung chuyển khoản là “chuyển khoản trả nợ” vì sợ an ninh mạng phát hiện ra việc chạy chức chạy quyền của anh T1. Anh T1 tin tưởng làm theo, tuy nhiên
cũng có lần chuyển tiền anh T1 quên ghi nội dung trên mà chỉ ghi “Nguyễn Văn T1 chuyển khoản”. Từ ngày 22/9/2021 đến ngày 19/10/2021, anh T1 đã chuyển 64 lần với tổng số tiền 310.500.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Ngày 20/10/2021, H lấy tên là T3 điện thoại cho anh T1 thông báo là P1 phải vào Bệnh viện mổ ung thư lần 2. Sau đó, để tạo sự tin tưởng với anh T1, H tiếp tục lấy tên là P2 đóng giả là mẹ của P1, vợ của đồng chí Phan Văn G để gọi điện cho anh T1, lừa anh T1 chuyển thêm tiền. Hiện tạo lý do là P1 phải mổ ung thư để hợp thức hóa việc P2 sử dụng số điện thoại 0376.545.xxx của P1 liên lạc với anh T1 và bảo anh T1 cứ yên tâm sẽ lo công việc cho anh T1. Từ thời điểm này trở đi Hiện lấy danh nghĩa tên là T3 và P2 để lừa anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của Hiện. Anh T1 tin tưởng được vợ của đồng chí Phan Văn G - Bộ trưởng Bộ Q1 giúp nên yên tâm tiếp tục chuyển tiền. Từ ngày 20/10/2021 đến ngày 27/10/2021, anh T1 đã chuyển 12 lần với tổng số tiền 47.000.000 đồng, vào tài khoản trên của Hiện.
Ngày 28/10/2021, H lấy tên là T3 điện thoại cho anh T1 nói dối là T3 cũng đang bị ốm, còn P1 vừa mổ xong và đề nghị anh T1 chuyển tiền để thể hiện sự quan tâm. Tin tưởng Hiện, cùng ngày Anh T1 đã chuyển vào tài khoản của Hiện hai lần, trong đó 01 lần 3 triệu đồng ghi nội dung “Nguyen Van Tinh chuyen khoan tra A T5”; 01 lần 2 triệu đồng ghi nội dung “Nguyen Van Tinh chuyen khoan tra no P".
Đầu tháng 11/2021, H lấy tên là T3 điện thoại cho anh T1 thông báo là P1 đã tử vong do COVID.19. Anh T1 nói muốn được lên thăm thì Hiện sợ anh T1 phát hiện việc bị lừa đảo nên đã lấy lý do là dịch bệnh phải tổ chức bí mật và là gia đình lãnh đạo để không cho anh T1 lên thăm. Tuy nhiên, Hiện lại lấy lý do là phải làm lễ viếng để yêu cầu anh T1 chuyển tiền. Từ thời điểm này anh T1 không còn liên lạc được với P1 mà chỉ liên lạc với T3 và P2, trong đó P2 sử dụng số điện thoại 0376.545.xxx của P1 để liên lạc với anh T1. Từ ngày 29/10/2021 đến ngày 19/11/2021, anh T1 đã chuyển 52 lần với tổng số tiền 205.800.000 đồng vào tài khoản của Hiện.
Khoảng ngày 20/11/2021, để tạo lòng tin với anh T1 nên H lấy tên P2 điện thoại cho anh T1 ngỏ ý muốn nhận anh T1 làm con nuôi của vợ chồng Bộ trưởng Phan Văn G. Anh T1 tin là thật nên đồng ý thì bị H yêu cầu chuyển tiền để làm thủ tục nhận con nuôi. Từ thời điểm này trở đi, khi H gọi điện thoại cho anh T1 để yêu cầu chuyển tiền đều lấy tên là P2, vợ Bộ trưởng và xưng hô với anh T1 là mẹ con vì đã nhận anh T1 làm con nuôi. Từ ngày 20/11/2021 đến ngày 31/12/2021, anh T1 đã chuyển 101 lần với tổng số tiền 448.100.000 đồng vào tài khoản của Hiện.
Đến tháng 01/2022, H lấy tên là T3 và P2, gọi điện thoại cho anh T1 nói số điện thoại 0376.545.xxx mà P2 đang dùng bị hack nên P2 chuyển sang dùng số điện thoại mới là 0788.226.xxx, anh T1 tin là thật nên lưu số điện thoại này trong danh bạ có tên “Vo BT” Từ thời điểm này trở đi, H lấy tên T3 và P2 gọi điện thoại yêu cầu anh T1 chuyển tiền để lo chạy các việc nêu trên. Từ ngày 01/01/2022 đến ngày 14/3/2022, anh T1 đã 114 lần chuyển tổng số tiền là 395.120.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Do đợi đã lâu không thấy có Quyết định, hồi 17 giờ 33 phút 11 giây ngày 15/3/2022 anh T1 gọi đến số điện thoại 0886.805.xxx của người tên T3 để hỏi nhưng không thấy T3 nghe máy, khoảng 25 giây sau có tin nhắn từ số điện thoại 0972.626.xxx nhắn đến cho anh T1 với nội dung “Tí goi”. Anh T1 nghĩ đây là số điện thoại thứ 2 của người tên T3 nhắn tin đến cho mình nên đã lưu số điện thoại này trong danh bạ có tên “A Tuan BQP2” mà không biết đây là số điện thoại chính chủ của Hiện. Sau khi nhắn tin cho anh T1 từ số điện thoại chính chủ của mình, H sợ anh T1 phát hiện việc Hiện lừa đảo nên đã lấy tên T3 gọi điện thoại cho anh T1 nói là bận họp do đang bị Cơ quan An ninh mạng điều tra và yêu cầu anh T1 xóa bỏ toàn bộ các nội dung trong điện thoại có liên quan đến việc anh T1 liên lạc với những người tên T3, P1, P2 thì mới về trao Quyết định. Anh T1 tin tưởng nên đã xóa toàn bộ dữ liệu trong điện thoại có liên quan đến T3, P1, P2 đồng thời thông báo lại cho H biết. Từ ngày 15/3/2022 đến ngày 17/3/2022, H yêu cầu anh T1 chuyển tiền và anh T1 đã 10 lần chuyển tiền tổng số 41.600.000 đồng vào tài khoản trên của Hiện.
Như vậy, từ ngày 13/7/2021 đến ngày 17/3/2022, H lấy tên là T3, P1, P2 để yêu cầu của anh T1 chuyển tiền để lo việc. Anh T1 đã chuyển 517 lần tiền tổng số là 2.542.120.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 của Hiện, chuyển 01 lần 5.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng V1 số [...] mang tên Lê Trung T3. Tổng số tiền Hiện chiếm đoạt của anh T1 là 2.547.120.000 đồng.
Thấy không có quyết định và nghi ngờ bị lừa đảo, anh T1 đã nhắn tin với P2 phàn nàn về việc là người trong gia đình mà nói dối nhau, không thành thật với nhau, đến giờ vẫn chưa có quyết định. Sáng ngày 21/3/2022, anh T1 nhắn tin cho anh T2 để hỏi việc H3 cho người tên T3 số điện thoại của anh T1 có phải là thật không và nhờ anh T2 gọi điện hỏi H3 xem công việc của T1 đến bao giờ thì được. Hồi 10 giờ 23 phút, ngày 21/3/2022 anh T2 điện thoại vào số điện thoại 0972.626.xxx của Hiện và ghi âm cuộc gọi (File ký hiệu “Hiền22 vk H1-2203211023.amr”). Tại cuộc gọi này, anh T2 vẫn gọi Hiện tên là H3 vì vẫn chưa biết tên thật của H. Cuộc nói chuyện có nội dung anh T2 hỏi Hiện về công việc của T1 thì H nói không liên quan, không biết T1 là ai, T1 không điện thoại cho Hiện bao giờ để nhờ việc mà T1 nhờ người khác, nhờ ai hay làm việc với ai thì
H không biết nhưng Hiện lại chủ động kể cho anh T2 biết là người giúp chạy việc cho anh T1 là vợ lãnh đạo nhưng không nói rõ là ai, người này bảo là sẽ được việc nhưng phải đợi hết Quý I năm 2022 thì anh T1 cứ vội vàng, nhắn tin nói linh tinh với người này, anh T1 yêu cầu phải có quyết định nhanh, làm người này bực mình. Anh T2 tiếp tục hỏi Hiện về số tài khoản Ngân hàng B1 mang tên Hiện đuôi 954 (là tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 của Hiện), Hiện có sử dụng không, thì Hiện nói là không sử dụng, đã cho người khác sử dụng từ lâu. Sau đó, anh T2 tiếp tục hỏi về công việc của anh T1 thì H vẫn chủ động nói là công việc của anh T1 vẫn được, người giúp việc cho anh T1 vẫn giúp bình thường, rồi kết thúc cuộc gọi. Thời điểm này, do anh T1 chưa kể hết việc bị lừa cho anh T2 biết nên anh T2 vẫn nghĩ là Hiện giúp và nói với anh T1 về việc H bảo người lo công việc cho anh T1 vẫn giúp bình thường, phải đợi hết Quý I và không được nhắn tin, gọi điện chửi người ta nữa, nếu xong việc người ta còn mắng cho.
Ngày 22/3/2022, anh T1 kể hết sự việc cho anh T2 biết và thông báo mình đã bị mất hơn 2 tỷ đồng. Anh T2 bất ngờ vì không nghĩ số tiền lớn như thế và yêu cầu anh T1 liệt kê các số điện thoại của T3, P1, P2 liên lạc với anh T1 và phát hiện ra việc anh T1 lưu số điện thoại 0972.626.xxx là số chính chủ của Hiện nhưng anh T1 nói là số điện thoại của người tên T3. Anh T2 nói cho anh T1 biết số điện thoại 0972.626.xxx là số chính chủ do Hiện sử dụng và bảo anh T1 gọi điện thoại cho người xưng danh vợ Bộ trưởng để anh T2 nghe. Hồi 10 giờ 51 phút ngày 22/3/2022, anh T1 gọi đến số điện thoại 0788.226.xxx mà anh T1 lưu trong danh bạ tên là P2, vợ của đồng chí Phan Văn G - Bộ trưởng Bộ Q1 và ghi âm cuộc gọi (File ký hiệu “Ghi âm cuộc gọi Vo BT_220322_103132.m4a”). Hiện thấy anh T1 vẫn xưng hô mẹ con với Hiện nên nghĩ anh T1 chưa phát hiện ra việc Hiện giả danh vợ Bộ trưởng lừa đảo nên tiếp tục xưng mẹ khi nói chuyện với anh T1. Nội dung cuộc nói chuyện Hiện trách móc anh T1 về việc anh Tình đi kể chuyện chạy việc cho người trong đơn vị biết. Hiện nói cho anh T1 biết việc anh T2 điện thoại cho H và H nói với anh T2 là Hiện không liên quan đến anh T1, anh T1 chưa bao giờ điện thoại cho H để nhờ chạy việc. Anh T1 trách móc về việc đã nhiều lần muốn gặp mẹ nhưng không được, kể cả thời điểm P1 (con gái) của mẹ mất, anh T1 cũng không được lên thăm. Thấy anh T1 nhắc đến P1 thì H bảo anh T1 không nói chuyện trên nữa rồi nói sang chuyện khác, động viên anh T1 cứ yên tâm công việc sẽ được. Anh T1 nói tiền chạy công việc cũng đã gần 2 tỷ đồng mà toàn là tiền anh T1 vay ngân hàng và người thân, giờ không được việc thì anh T1 cũng phải xin ra quân để đi làm trả nợ. Hiện động viên anh T1 không được ra quân, còn công việc yên tâm là được, chắc chắn là Quý I này là được, các chú bảo thế. Hiện còn kể cho anh T1 về việc lần anh T1 chuyển tiền phí chạy việc trước đó tổng là 3 triệu đồng nhưng còn thiếu 2 triệu đồng và H đã đóng hộ số tiền còn thiếu giúp anh
T1. Hiện thấy anh T1 nhắc đến công việc nên H nói với anh T1 là không nói đến công việc qua điện thoại, để gặp trực tiếp nói chuyện. Hiện nói với anh T1 là sợ anh T1 ghi âm cuộc nói chuyện này và yêu cầu anh T1 thề là không ghi âm. Hiện yêu cầu anh T1 không được nói chuyện đến tiền nong với lý do là không nói qua điện thoại được, khi nào gặp sẽ nói chuyện sau. Anh T1 nói mẹ cho anh T1 thời điểm đến bao giờ công việc được để anh T1 yên tâm thì Hiện lại nói với anh là công việc của anh T1 không nói qua điện thoại được, để gặp trực tiếp sẽ nói, còn từ bây giờ không có việc gì quan trọng thì không cần điện thoại rồi tắt cuộc gọi.
Anh T2 nhận ra giọng nói của người đang xưng mẹ nói chuyện với anh T1 là giọng nói của Hiện và xác định Hiện đang giả danh vợ Bộ trưởng để lừa đảo anh T1 và nói cho anh T1 biết. Đồng thời, anh T2 dặn anh T1 đừng để Hiện phát hiện ra việc đã bị anh T1 biết Hiện giả danh vợ Bộ trưởng lừa đảo anh T1, để tiếp tục nói chuyện ghi âm thu thập bằng chứng. Tuy nhiên, do anh T1 bức xúc về việc bị Hiện giả danh gia đình Bộ trưởng lừa đảo, hồi 12 giờ 02 phút cùng ngày 22/3/2022, anh T1 điện thoại có ghi âm cuộc gọi (File ký hiệu “Ghi âm cuộc gọi Vo BT_220322_120125.m4a”) với số điện thoại 0788.226.xxx để nói chuyện và vẫn xưng mẹ con. Lúc này Hiện vẫn xưng mẹ để nói chuyện với anh T1 nhưng khi bị anh T1 nói là lừa đảo, không phải là vợ của đồng chí Phan Văn G - Bộ trưởng Bộ Q1 thì Hiện tắt cuộc gọi và cắt liên lạc dưới danh nghĩa là vợ Bộ trưởng với anh T1.
Đến hồi 14 giờ 38 phút, ngày 22/3/2022 anh T2 điện thoại có ghi âm cuộc gọi (File ký hiệu “Hiền22 vk H1-2203221438.amr”) với số điện thoại 0972.626.xxx của Hiện để hỏi việc của anh T1 tiếp thì Hiện luôn nói với anh T2 là Hiện không liên quan đến việc của anh T1, anh T1 không điện thoại cho H từ đầu đến cuối để nhờ việc, anh T1 điện cho người khác để nhờ việc, H không biết anh T1 là ai, anh T1 thích làm gì thì làm. Anh T2 bảo Hiện bình tĩnh và tiếp tục hỏi Hiện về công việc của anh T1 thì H lại nói là công việc của anh T1, người ta sắp làm cho nhưng anh T1 cứ nói vớ vẩn, luyên thuyên làm người ta chửi vào mặt Hiện. Anh T2 hỏi Hiện về công việc của anh T1 đến bao giờ thì được thì H không trả lời rồi lấy lý do là anh T1 không điện thoại nhờ Hiện và tắt cuộc gọi.
Đến 08 giờ 12 phút, ngày 23/3/2022, anh T2 điện thoại có ghi âm cuộc gọi (File ký hiệu “FILE_20220405_103309_FILE_20220405_100802_Hiền22 vk H1-2203230812.amr”), vào số điện thoại 0972.626.xxx của Hiện để hỏi việc của anh T1 tiếp. Lúc này, anh T2 thông báo cho Hiện biết về việc anh T1 đang có ý định xin ra quân để kiện Hiện lừa đảo và anh T1 còn nói anh T2 móc ngoặc với Hiện để lừa đảo anh T1, nếu anh T1 kiện thì anh T2 sẽ liên quan. Anh T2 hỏi Hiện về người tên T3 mà Hiện giới thiệu chạy việc cho anh T1 thời gian về trước thì H phải biết người này là ai, còn việc anh T1 chạy việc thì phải mất tiền
và tiền chi phí đều chuyển vào tài khoản Ngân hàng của Hiện. Hiện không trả lời về người tên T3 mà chỉ thông báo cho anh T2 biết là việc anh T1 vay tiền với người khác và chuyển tiền vào tài khoản của Hiện để trả nợ người cho người anh T1 vay tiền mà không phải Hiện. Hiện còn nói với anh T2 là người cho anh T1 vay tiền có các giấy vay tiền với anh T1 và nội dung chuyển tiền thì anh T1 đều ghi chuyển khoản trả nợ và người này đã thuê Luật sư để kiện lại anh T1, thách thức anh T1 thích làm gì thì làm. Anh T2 nói xin Hiện, không muốn Hiện và anh T1 kiện tụng nhau vì sẽ liên quan đến anh T2 thì H nói với anh T2 là công việc của anh T1 phải đợi, anh T2 nói là anh T1 đã đợi gần hết Quý I rồi những vẫn chưa được, H nói chưa hết thời hạn trên. Sau đó anh T2 có kể cho H biết về việc anh T2 đã động viên được anh T1 không kiện với lý do người chạy việc cho anh T1 nói đợi hết Q I thì anh T1 cứ đợi hết Q I nếu không được thì bảo người ta trả lại tiền và anh T1 đã đồng ý. Hiện bảo anh T2 nói với anh T1 đợi thêm đến tháng 4/2022, công việc của anh T1 chắc chắn được và được hẳn 03 chỉ tiêu, trong đó có lên quân hàm trước niên hạn. Hiện nói nếu anh T1 kiện thì anh T1 sẽ mất tất cả, người chạy việc cho anh T1 sẽ không giúp anh T1 nữa, anh T1 sẽ mất tiền và người cho anh T1 vay tiền sẽ kiện anh T1. Anh T2 bảo Hiện nếu đợi đến thời hạn trên mà không được việc thì trả lại cho anh T1 nửa số tiền đã chạy việc thì H khẳng định là không cầm tiền gì của anh T1.
Hồi 08 giờ 42 phút, ngày 24/3/2022, anh T2 điện thoại có ghi âm cuộc gọi (File ký hiệu “Hiền22 vk H1-2203240842.amr”) vào số điện thoại 0972.626.xxx của Hiện để tiếp tục hỏi việc của T1. Lúc này, H biết hành vi lừa đảo của mình đã bị phát hiện nên không nói đến công việc của T1 mà H chỉ nói với anh T2 là do anh T2 điện thoại thông báo cho H1 chồng của Hiện biết thì H sẽ đấu tới cùng và Hiện sẽ cho Luật sư, báo chí đến kiện. Hiện còn thông báo cho anh T2 biết là việc anh T1 chuyển tiền vào tài khoản của H là việc anh T1 trả nợ tiền vay cho Hiện, H còn nhiều giấy vay tiền của anh T1 viết, ký với Hiện. Hiện còn bảo anh T2 từ giờ không phải điện thoại cho Hiện rồi Hiện tắt điện thoại, từ thời điểm này anh T2 không liên lạc được với H.
Sau đó anh T1, anh Tiến trình B sự việc đến Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H về việc bị Hiện lừa đảo và Cơ quan điều tra hình sự Khu vực 4 Quân khu C5 tiếp nhận giải quyết. Ngày 16/8/2023, Cơ quan Điều tra hình sự khu vực 4 Quân khu C5 đã ra Quyết định khởi tố vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra từ tháng 7/2021 đến tháng 3/2022 tại tỉnh Hà Nam để điều tra xử lý theo quy định pháp luật. Quá trình điều tra nhận thấy vụ án không thuộc thẩm quyền, ngày 22/8/2023, Viện kiểm sát quân sự Quân khu C5 đã ra Quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H để điều tra theo thẩm quyền.
Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của
Nguyễn Thị Hiện tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình khám xét thu giữ 01 thẻ ATM Ngân hàng B1 số 9704180122893944 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 thẻ ATM Ngân hàng V2 số 5239 7568 0365 8094 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung A12, màu đen, số IMEI 352884796492073, cũ đã qua sử dụng.
Nguyễn Thị H giao nộp: 01 thẻ ATM Ngân hàng M số 9704 222001822154 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 thẻ ATM Ngân hàng V3 số 9704368692656717335 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 thẻ ATM Ngân hàng V2 số 5239756880489942 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị H.
Anh Nguyễn Văn T1 giao nộp: 16 phiếu nộp tiền và hình ảnh chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng B1 của Nguyễn Thị H; 01 hình ảnh chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng V1 số [...] của Lê Trung T3; sao kê tài khoản Ngân hàng M1 số 7700100927001 của anh Nguyễn Văn T1 từ ngày 01/6/2021 đến ngày 20/3/2022; 09 Bản phô tô giấy vay tiền của anh Nguyễn Văn T1 với người thân của anh T1; 01 Giấy cam kết đề ngày 06/9/2021, có chữ ký của anh Nguyễn Văn T1. Nội dung anh T1 ghi anh T1 có vay của chị Nguyễn Thị H3 (chỉ ghi tên không ghi rõ nhân thân lai lịch) số tiền 500 triệu đồng. Đến ngày 06/9/2021, anh T1 đã trả đủ số tiền 500 triệu đồng cho chị Nguyễn Thị H3 bằng hình thức chuyển vào tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 Giấy cam kết đề ngày 15/9/2021, có chữ ký của anh Nguyễn Văn T1. Nội dung anh T1 ghi anh T1 có vay của chị Nguyễn Thị H3 (chỉ ghi tên không ghi rõ nhân thân lai lịch) số tiền 750 triệu đồng. Đến ngày 15/9/2021, anh T1 đã trả đủ số tiền 750 triệu đồng cho chị Nguyễn Thị H3 bằng hình thức chuyển vào tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 Giấy cam kết đề ngày 22/9/2021, có chữ ký của anh Nguyễn Văn T1. Nội dung anh T1 ghi là ngày 13/7/2021, anh T1 vay của chị “Nguyen Thi H4” (chỉ ghi họ tên không dấu, không ghi rõ nhân thân lai lịch), số tiền 800 triệu đồng. Đến ngày 22/9/2021, anh T1 đã trả đủ số tiền 800 triệu đồng cho chị “Nguyen Thi Hien” bằng hình thức chuyển vào tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 Chứng từ chuyển phát nhanh ngày 20/10/2021, ghi người gửi là anh Nguyễn Văn T1, người nhận là Phan Văn T4, số điện thoại 0376.545.xxx, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nội dung gửi là 05 nồi cá kho. Anh T1 xác định đây là việc anh T1 gửi thùng rượu gỗ sồi và cá kho do bị Hiện lừa đảo trước đó; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7, số IMEI1: 359752073638382, cũ đã qua sử dụng.
Anh Đỗ Xuân T2 giao nộp: Sao kê tài khoản Ngân hàng M1 số 7700100716008 mang tên anh Đỗ Xuân T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số IMEI1: 860343042123839, cũ đã qua sử dụng.
Anh Nguyễn Văn H1 giao nộp: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại có dán tem in số IMEI 1: 865039062536612, số IMEI 2: 865039062536604; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng.
Ngày 10/5/2022, Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 4, Q ra Quyết định trưng cầu giám định về kỹ thuật số và điện tử đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, số IMEI1: 359752073638382 tạm giữ của anh Nguyễn Văn T1 (ký hiệu A1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số IMEI1: 860343042123839, tạm giữ của anh Đỗ Xuân T2 (ký hiệu A2).
Tại bản Kết luận giám định số 134/KL-KTHS ngày 09/6/2022 của V4 Bộ Có kết luận: “Trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1 tìm thấy 417 lịch sử cuộc gọi, 265 tin nhắn SMS, 1321 tin nhắn Zalo lưu trữ trong máy điện thoại từ ngày 01/4/2021 đến 20/3/2022 (theo thời gian hiển thị trên dữ liệu). Chi tiết thể hiện tại thư mục “A1” tại đĩa DVD kèm theo.
Trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu A2 tìm thấy 2581 lịch sử cuộc gọi, 420 tin nhắn SMS, 16472 tin nhắn Zalo lưu trữ trong máy điện thoại từ ngày 01/4/2021 đến 20/3/2022 (theo thời gian hiển thị trên dữ liệu). Chi tiết thể hiện tại thư mục “A2” tại đĩa DVD kèm theo”.
Kiểm tra dữ liệu đĩa DVD ký hiệu “A1” là dữ liệu trưng cầu điện thoại tạm giữ của anh Nguyễn Văn T1, ghi nhận:
- Phát sinh tin nhắn gửi đi đến số điện thoại 0788.226.xxx lưu tên “Vo BT” từ ngày 09/3/2022 đến ngày 15/3/2022. Anh T1 xác định đây là các tin nhắn mà anh T1 nhắn tin cho người giả danh tên P2 vợ của đồng chí Phan Văn G - Bộ Trưởng Bộ Q1. Nội dung tin nhắn thể hiện việc anh T1 xưng hô mẹ con với người này.
- Phát sinh tin nhắn gửi đi, gửi đến với số điện thoại 0886.805.xxx lưu tên “A Tuan BQP” từ ngày 12/3/2022 đến ngày 15/3/2022 anh T1 xác định đây là các tin nhắn đi đến mà anh T1 nhắn tin với người giả danh tên T3, làm ở Bộ Q1 là người được Hiện nhờ chạy việc cho anh T1. Nội dung tin nhắn thể hiện việc anh T1 đang được người này chạy việc có nhắc đến chuyển tiền 2 triệu đồng và được người này thông báo mẹ của anh T1 bị ốm.
- Phát sinh tin nhắn đến với số điện thoại 0972.626.xxx lưu tên “A Tuan BQP2” thời gian hồi 17 giờ 33 phút 36 giây ngày 15/3/2022, nội dung tin nhắn gửi đến “Tí goi”. Anh T1 xác định đây là tin nhắn do số điện thoại 0972.626.xxx gửi đến cho anh T1 khi anh T1 gọi điện thoại cho số điện thoại 0886.805.xxx
lưu tên “A Tuan BQP” của người tên T3 vào hồi 17 giờ 33 phút 11 giây ngày 15/3/2022 nhưng người tên T3 không nghe máy thì 25 giây sau có tin nhắn của số điện thoại 0972.626.xxx gửi tin nhắn đến cho anh T1 với nội dung bảo anh T1 tí gọi. Lúc này anh T1 hiểu là số điện thoại 0972.626.xxx này cũng là số điện thoại của người tên T3 nên lưu số điện thoại 0972.626.xxx với tên “A Tuan BQP2” có nghĩa là số thứ 2 của người tên T3. Sau này thì anh T1 được anh T2 cho biết số điện thoại 0972.626.xxx này là số chính chủ của Hiện sử dụng.
- Phát sinh các cuộc gọi đi đến với số điện thoại 0788.226.xxx lưu tên “Vo BT” thời gian từ ngày 08/3/2022 đến ngày 15/3/2022.
- Phát sinh các cuộc gọi đi đến với số điện thoại 0886.805.xxx lưu tên “A Tuan BQP” từ ngày 11/01/2022 đến ngày 15/3/2022. Ghi nhận cuộc gọi đến số điện thoại này vào hồi 17 giờ 33 phút 11 giây ngày 15/3/2022 nhưng số điện thoại này không nhận cuộc gọi.
- Phát sinh các cuộc gọi đi đến với số điện thoại 0376.545.xxx lưu tên “E Phuong BT” vào ngày 11/01/2022. Anh T1 xác định đây là số điện thoại của người giả danh tên P1 là con gái của P2 và đồng chí Phan Văn G - Bộ Trưởng Bộ Q1 liên lạc với anh T1 nhưng đến thời điểm tháng 11/2021 thì T3 thông báo cho anh T1 là P1 đã chết do C3 -19, từ đó số điện thoại này do Phương vợ của Bộ trưởng sử dụng để liên lạc với anh T1 đến thời điểm tháng 01/2022 thì không sử dụng nữa và chuyển sang dùng số điện thoại 0788.226.xxx để liên lạc với anh T1.
Các nội dung có liên quan trên đã in ra giấy A4 có chữ ký xác nhận của anh Nguyễn Văn T1.
Kiểm tra dữ liệu đĩa DVD ký hiệu “A2” là dữ liệu trưng cầu điện thoại tạm giữ của anh Đỗ Xuân T2 không ghi nhận có dữ liệu liên quan đến vụ án.
Ngày 15/10/2022, Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 4, Q, ra Quyết định trưng cầu giám định số 22/QĐ-TCGĐ, về dữ liệu điện tử âm thanh giọng nói, đối với: File âm thanh ký hiệu “FILE_20220405_103309_FILE_20220405_100802_Hiền22 vk H1-2203230812.amr” (Ký hiệu A1), lưu tại thẻ nhớ MicroSD HC, thu giữ tại điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số IMEI1: 860343042123839, của anh Đỗ Xuân T2, là cuộc nói chuyện qua điện thoại hồi 08 giờ 12 phút ngày 23/3/2022 giữa anh T2 và người tên H3 (tên thật là Nguyễn Thị H) sử dụng số điện thoại 0972.626.xxx; File âm thanh ký hiệu “Ghi âm cuộc gọi Vo BT_220322_103132.m4a" (Ký hiệu A2), lưu tại thẻ nhớ T, thu giữ tại điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, số IMEI1: 359752073638382, của anh Nguyễn Văn T1, là cuộc nói chuyện qua điện thoại vào hồi 10 giờ 51 phút ngày 22/3/2022, giữa anh T1 và người xưng tên P2, vợ của đồng chí Phan Văn G -
Bộ trưởng Bộ Q1, sử dụng số điện thoại 0788.226.xxx mà anh T1 lưu tên “Vo BT” với mẫu so sánh là File âm thanh ghi lời khai ngày 17/10/2022 của Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 4 Quân Khu 3 đối với Nguyễn Thị H, được lưu tại USB nhãn hiệu SanDisk (Ký hiệu A3).
Tại bản Kết luận giám định số 354/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của V4 Bộ Có kết luận: “Không phát hiện dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tập tin ghi âm mẫu cần giám định. Tiếng nói của người phụ nữ trong các tập tin ghi âm mẫu cần giám định và tiếng nói mẫu so sánh của Nguyễn Thị H là của cùng một người.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu giám định về điện tử đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung A12, màu đen, số IMEI 352884796492073 thu giữ của Hiện (Ký hiệu A1); 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại có dán tem in số IMEI 1: 865039062536612, số IMEI 2: 865039062536604 (Ký hiệu A2); 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, phía trên bên trái màn hình có vết dạn nứt kính ở góc màn hình (Ký hiệu A3).
Tại bản Kết luận giám định số 2617/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của V4 Bộ Có kết luận: “Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1: Tìm thấy: 2.128 danh bạ điện thoại trong đó (555 danh bạ viễn thông, 493 danh bạ Facebook Messenger, 1.080 danh bạ Zalo); 3.229 lịch sử cuộc gọi đi, gọi đến trong đó (1.051 lịch sử cuộc gọi viễn thông, 104 lịch sử cuộc gọi Facebook Messenger, 2.074 lịch sử cuộc gọi trong ứng dụng Zalo); 906 tin nhắn SMS; 15.584 tin nhắn trong ứng dụng Zalo; 1.521 tin nhắn Facebook Messenger lưu trữ trong máy điện thoại di động. Tìm thấy 19 danh bạ điện thoại lưu trữ trong thẻ SIM có số 8984048000037477615; không tìm thấy dữ liệu tin nhắn, SMS, lịch sử cuộc gọi, trong thẻ SIM có số 88984048000078845221. (Chi tiết thể hiện tại thư mục “A1” trong đĩa DVD kèm theo). Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A2 và A3. Không đọc được dữ liệu trong 02 máy điện thoại di động do không có mật khẩu mở máy. Không tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong thẻ SIM trong mẫu A2, A3”.
Kiểm tra đĩa DVD gửi kèm theo Kết luận giám định số 2617/KL-KTHS, ghi nhận: Tại mục “Danh bạ viễn thông.xlsx”, ghi nhận lưu số điện thoại 0914.599.xxx là số điện thoại của anh Nguyễn Văn T1 sử dụng, với tên “Ban Tien”, lưu số điện thoại 0986.681.xxx là số điện thoại của anh Đỗ Xuân T2 sử dụng, với tên “Tiên Ha N1”, lưu số điện thoại 0788.226.xxx là số điện thoại Hiện sử dụng để gọi cho anh Nguyễn Văn T1 nhưng giả danh tên P2 vợ của đồng chí Phan Văn G - Bộ trưởng Bộ Q1 với tên “T”. Ngoài ra không ghi nhận thông tin dữ liệu gì có liên quan đến vụ án.
Ngày 24/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh khai thác dữ liệu điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, số IMEI1: 359752073638382 do anh Nguyễn Văn T1 giao nộp. Kết quả ghi nhận như sau: Tại ứng dụng Danh bạ, Tin nhắn của điện thoại lưu số điện thoại 0886.805.xxx với tên “A Tuan BQP”. Anh T1 xác định đây là số điện thoại của người nói giọng nam giới xưng danh tên là T3 làm ở Bộ Q, là người được Hiện giới thiệu để chạy chuyển hệ số lương cho anh T1 vào ngày 13/7/2021. Lưu số điện thoại 0972.626.xxx với tên “A Tuan BQP2”. Anh T1 xác định số điện thoại này anh T1 không biết là của ai sử dụng chỉ biết là ngày 15/3/2022 khi anh T1 gọi điện thoại đến số 0886.805.xxx của người tên T3 thì T3 không nghe máy nhưng ngay sau đó số điện thoại 0972.626.xxx có nhắn tin đến cho anh T1 với nội dung “Tí goi”. Anh T1 nghĩ cũng là số điện thoại của T3 sử dụng nên đã lưu số điện thoại này vào danh bạ là số thứ 2 của người tên T3. Sau này anh T1 được anh T2 thông báo thì mới biết đây là số điện thoại của Hiện sử dụng thì anh T1 mới biết Hiện là người lấy tên T3 để lừa đảo. Lưu số điện thoại 0376.545.xxx với tên “E Phuong BT”. Anh T1 xác định đây là số điện của người nói giọng nữ giới, xưng danh tên là P1, con gái của đồng chí đại tướng Phan Văn G - Bộ Trưởng Bộ Q1, được T3 giới thiệu là cấp dưới của T3 và là người làm thủ tục hồ sơ chuyển hệ số lương cho anh T1. Đến tháng 11/2021 thì người này được T3 thông báo chết do C3 -19. Từ thời điểm tháng 11/2021 đến tháng 01/2022 thì số điện thoại này được người xưng tên P2, là vợ Bộ trưởng. Lưu số điện thoại 0788.226.xxx với tên “Vo BT”. Anh T1 xác định đây là số điện thoại của người phụ nữ liên lạc với anh T1 thời gian về trước, xưng danh tên là P2, vợ của đồng chí đại tướng Phan Văn G – Bộ trưởng Bộ Q1 giúp chạy việc cho anh T1 và nhận anh T1 làm con nuôi. Đến ngày 22/3/2022, anh T1 cùng anh T2 phát hiện ra người này là do Hiện giả danh để lừa đảo anh T1. Ghi nhận có tin nhắn đến từ số điện thoại này vào ngày 21/3/2022 với nội dung nhắn tin trách móc anh T1 cho người khác điện thoại đến người này, liên quan đến việc anh T1 bị lừa đảo. Lưu số điện thoại 0986.681.xxx với tên “A Tien Ban BV”. Anh T1 xác định đây là số điện thoại của anh Đỗ Xuân T2, người cùng làm với anh T1 tại Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H thời gian về trước. Ghi nhận có phát sinh tin nhắn đi, đến từ ngày 23/3/2022 đến ngày 01/4/2022. Nội dung thể hiện việc anh T1 và anh T2 nói chuyện với nhau sau khi phát hiện ra việc Hiện giả danh để lừa đảo anh T1, nhưng thời điểm này cả hai chưa biết tên thật của H nên gọi Hiện với tên gọi là “H3”.
Tại ứng dụng Bộ sưu tập: Ghi nhận có hình ảnh chụp tin nhắn với số điện thoại 0788.226.xxx với tên “Vo BT”. Nội dung tin nhắn thể hiện vào thời điểm ngày 21/3/2022, anh T1 nhắn tin đi, đến với người xưng danh vợ Bộ trưởng nói người này lươn lẹo, không thành thật và anh T1 sẽ xin nghỉ việc không bao giờ nói chuyện với người này nữa thì người này có nhắn tin lại từ giờ không cần nói chuyện nữa.
Tại ứng dụng Zalo ghi nhận: Tài khoản đang đăng nhập tên “Tình” lập bởi số điện thoại 0346.016.xxx. Anh T1 xác định đây là tài khoản Zalo của anh T1 sử dụng. Có phát sinh tin nhắn Zalo với tài khoản Zalo tên “Do Xuan T6” từ ngày 22/3/2022 đến ngày 28/3/2022, không hiện số điện thoại, là tài khoản Zalo của anh T2. Nội dung tin nhắn thể hiện việc anh T1 trao đổi với anh T2 để trình báo hành vi lừa đảo của H nhưng thời điểm này cả hai chưa biết tên thật của H nên gọi Hiện với tên gọi là “H3”.
Tại ứng dụng File của bạn ghi nhận: Lưu trữ 02 File ghi âm cuộc gọi điện thoại với số điện thoại 0788.226.xxx lưu tên “Vo BT”, ký hiệu lần lượt: “Ghi âm cuộc gọi Vo BT_220322_103132.m4a” là cuộc gọi vào thời điểm 10 giờ 51 phút ngày 22/3/2022, thời lượng 20 phút 21 giây ); “Ghi âm cuộc gọi Vo BT_220322_120125.m4a” là cuộc gọi vào thời điểm 12 giờ 02 phút ngày 22/3/2022, thời lượng 01 phút 25 giây; trong đó F ký hiệu “Ghi âm cuộc gọi Vo BT_220322_103132.m4a” đã được giám định xác định là giọng nói của Nguyễn Thị H. Nội dung cuộc nói chuyện của các File ghi âm trên, có các câu nói của H và anh T1 thể hiện nội dung liên quan đến vụ án.
Ngày 23/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh khai thác dữ liệu điện thoại nhãn hiệu Realme thu giữ của anh Nguyễn Xuân T7. Kết quả ghi nhận như sau: Tại ứng dụng Danh bạ, Tin nhắn của điện thoại ghi nhận: Lưu số điện thoại 0972.626.xxx với tên “Hiền 22 vk H1”. Anh T7 xác định đây là số điện thoại của chị Nguyễn Thị H sử dụng nhưng thời điểm anh T7 quen biết Hiện thì H không giới thiệu tên thật là H cho anh T7 biết mà giới thiệu tên là H3 nên khi lưu số điện thoại của Hiện vào điện thoại thì anh T7 lưu tên là H3. Nhật ký cuộc gọi đi, đến với số điện thoại này còn lưu từ ngày 07/12/2021 đến ngày 25/3/2022. Phát sinh tin nhắn SMS đi, đến với số điện thoại này từ ngày 13/7/2021 đến ngày 26/3/2022. Anh T7 xác định nhật ký cuộc gọi và các tin nhắn phát sinh với số điện thoại này là việc anh T7 gọi điện, nhắn tin với Hiện, trong đó có các nội dung liên quan đến việc anh T7 nhờ Hiện giúp anh Nguyễn Văn T1, người làm ở Ban tài chính của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H thời gian về trước, chạy chuyển hệ số lương từ Trung cấp lên Đại học nhưng anh T1 bị Hiện lừa đảo. Trong đó có tin nhắn sau: Hồi 08 giờ 47 phút ngày 13/7/2021, anh T7 nhắn tin đến số điện thoại 0972.626.xxx của Hiện với nội dung “0346016943 Em Tình Ban Tài C2” rồi Hiện nhắn tin xác nhận “ok”. Anh T7 xác định đây là tin nhắn anh T7 cung cấp số điện thoại của T1 cho Hiện và cũng thời điểm này thì H mới có số điện thoại của anh T1 để liên lạc lừa đảo vì trước đó thì H và anh T1 không quen biết nhau, không có số điện thoại của nhau. Lý do phát sinh tin nhắn này là do trước đó thời điểm đầu tháng 7/2021 thì anh T7 có đặt vấn đề nhờ Hiện xem có tìm được người giúp anh T1 chạy chuyển hệ số lương từ Trung cấp lên Đại học không thì Hiện có nhận lời giúp anh T7 nhưng bảo để xem nếu
tìm được ai giúp thì Hiện sẽ thông báo lại cho anh T7 biết. Đến ngày 13/7/2021 thì Hiện có điện thoại thông báo cho anh T7 nói dối là đã tìm được người giúp chạy chuyển hệ số lương cho anh T1 và đề nghị anh T7 cung cấp số điện thoại của anh T1 cho H để Hiện trao đổi với anh T1 nên anh T7 tin tưởng cung cấp số điện thoại của anh T1 cho Hiện.
Lưu các số điện thoại 0346.016.xxx với tên “Tình Ban Tài Chính”, 0914.599.957 với tên “Tình Ban Tài Chính T5”. Anh T7 xác định đây là các số điện thoại của anh Nguyễn Văn T1. Có phát sinh tin nhắn SMS đi, đến với số điện thoại 0914.599.xxx từ ngày 20/4/2021 đến ngày 01/4/2022. Trong đó các tin nhắn từ ngày 20/4/2021 đến ngày 19/7/2021 thể hiện nội dung anh T1 đang nhờ anh T7 hỏi bạn của anh T7 là Hiện xem có giúp được anh T1 chạy chuyển hệ số lương hay không. Sau đó khi anh T7 đặt vấn đề với Hiện thì H đồng ý giúp và đã giới thiệu người tên T3 giúp anh T1 thì anh T1 và anh T7 có nhắn tin với nhau với nội dung giữ bí mật không để cho ai biết vì lo sợ sẽ bị ảnh hưởng. Tin nhắn ngày 17/8/2021 thể hiện nội dung anh T1 nhờ anh T7 xem quen ai Quân khu 3 hỏi giúp anh T1 xem có ai trên Bộ về không để anh T1 xác định công việc anh T1 đang chạy được hay không thì anh T7 có nhắn tin bảo anh T1 không nóng vội cứ để người ta làm. Các tin nhắn từ ngày 21/3/2022 đến ngày 01/4/2022 thể hiện nội dung anh T7 và anh T1 trao đổi với nhau việc bị Hiện lừa đảo để trình báo sự việc.
Tại Ứng dụng Zalo ghi nhận: Tài khoản đang đăng nhập tên “Do Xuan T6” lập bởi số điện thoại 0986.681.xxx. Anh T7 xác định đây là tài khoản Zalo của anh T7 sử dụng. Có phát sinh tin nhắn Zalo với các tài khoản Zalo sau: Tài khoản Zalo lưu tên “Tình Ban Tài Chính”, lập bởi số điện thoại 0346.016.xxx, tin nhắn từ ngày 28/6/2021 đến ngày 27/3/2022. Anh T7 xác định đây là tài khoản Zalo của anh Nguyễn Văn T1 sử dụng. Nội dung tin nhắn từ ngày 28/6/2021 đến 13/7/2021 thể hiện nội dung anh T1 nhờ anh T7 đặt vấn đề với Hiện để giúp anh T1 chạy việc chuyển hệ số lương. Sau đó anh T7 khi được Hiện thông báo nhận lời giúp chạy việc cho anh T1 thì anh T7 thông báo cho anh T1 biết. Trong đó tin nhắn vào hồi 09 giờ 36 phút, ngày 13/7/2021 anh T1 nhắn tin cho anh T7 với nội dung “Anh hỏi Chị H3 xem Tài khoản của Chị ấy nhận được tiền chưa. Em chuyển 50tr” và đến 11 giờ 58 phút cùng ngày anh T7 nhắn tin lại cho anh T1 với nội dung “Ok rồi”. Đây là các tin nhắn thể hiện việc ngày 13/7/2021 khi anh T1 chuyển số tiền 50 triệu đồng là tiền phí chuyển trước theo yêu cầu của người tên T3 vào tài khoản của H (anh T1 và anh T7 chỉ biết tên H là H3 nên tên trong tin nhắn nhắc là H3) để chạy chuyển hệ số lương, sau khi chuyển xong tiền, do anh T1 không có số điện thoại của Hiện để hỏi nên nhờ anh T7 hỏi xem Hiện đã nhận được tiền hay chưa. Anh T7 đồng ý và khi được Hiện thông báo là đã nhận được tiền của anh T1 chuyển đến thì anh T7 nhắn tin thông báo cho anh T1 biết là Hiện đã nhận được tiền. Nội dung này thể hiện mã
chuyển tiền 50 triệu đồng ngày 13/7/2021 của anh T1 vào tài khoản của Hiện. Do anh T7 là biết rõ nội dung này nên anh T7 còn nhắn tin dặn anh T1 lưu các giấy chuyển tiền lại. Anh T1 đồng ý. Các tin nhắn ngày 22/3/2022 đến ngày 27/3/2022, thời điểm anh T1 và anh T7 phát hiện việc bị Hiện lừa đảo nên đã nhắn tin trao đổi với nhau để trình báo sự việc. Tài khoản Z lưu tên “H3 22 vk H1”, lập bởi số điện thoại 0972.626.xxx, tin nhắn từ ngày 10/7/2021 đến ngày 07/12/2021. Thể hiện tin nhắn giữa anh T7 và Hiện. Trong đó có tin nhắn vào hồi 10 giờ 14 phút, ngày 13/7/2021, anh T7 nhắn tin cho Hiện với nội dung “E nó vừa ra NH chuyển tiền vào TK e, e xem nhaajn đc chưa” để hỏi Hiện xem đã nhận được số tiền 50 triệu đồng mà T1 chuyển đến chưa là tiền phí chạy chuyển hệ số lương mà anh T1 chuyển cho người tên T3 thông qua tài khoản của Hiện.
Tại ứng dụng Ghi âm ghi nhận: Đang lưu trữ 04 File ghi âm cuộc gọi với số điện thoại 0972.626.xxx lưu tên “Hiền22 vk H1” là số điện thoại của Hiện sử dụng, có liên quan đến vụ án có ký hiệu lần lượt sau: “Hiền22 vk H1-2203211023.amr” là cuộc gọi vào thời điểm 10 giờ 23 phút ngày 21/3/2022, thời lượng 08 phút 17 giây;“Hiền22 vk H1-2203221438.amr” là cuộc gọi vào thời điểm 14 giờ 38 phút ngày 22/3/2022, thời lượng 01 phút 55 giây; “FILE_20220405_103309_FILE_20220405_100802_Hiền22vkHùng2203230812. mr” là cuộc gọi vào thời điểm 08 giờ 12 phút ngày 23/3/2022, thời lượng 14 phút 08 giây; “Hiền22 vk H1-2203240842.amr” là cuộc gọi vào thời điểm 08 giờ 42 phút ngày 24/3/2022, thời lượng 04 phút 51 giây. Trong đó, F ký hiệu “FILE_20220405_103309_FILE_20220405_100802_Hiền22 vkHùng2203230812.amr” đã được giám định xác định là giọng nói của Nguyễn Thị H. Nội dung cuộc nói chuyện của 04 File ghi âm trên đã thể hiện anh T7 đều gọi Hiện với tên gọi là H3 thể hiện rõ việc khi quen biết với anh T7 thì H không giới thiệu tên thật mà giới thiệu tên là H3 nên anh T7 gọi tên H3 thì H hiểu là anh T7 đang gọi Hiện và H trả lời; khi anh T7 hỏi về công việc của anh T1 thì H không thừa nhận là người chạy việc cho anh T1 vì H không biết anh T1 là ai, anh T1 không điện thoại để nhờ Hiện mà nhờ người khác, anh T1 làm việc với ai thì H không biết, tuy nhiên Hiện lại nói với anh T7 về việc người chạy việc cho anh T1 là vợ của lãnh đạo, anh T1 vội vàng yêu cầu phải có Quyết định ngay rồi nhắn tin chửi người này làm người chạy việc cho anh T1 bực mình nhưng người này nói vẫn giúp công việc cho anh T1 bình thường rồi Hiện bảo anh T7 khuyên anh T1 phải đợi, đợi hết quý 1/2022.
Sao kê tài khoản Ngân hàng B1 số 34110001277954 mang tên Nguyễn Thị H từ ngày 13/7/2021 đến ngày 20/3/2022, ghi nhận 517 lần anh T1 chuyển tiền đến với tổng số tiền 2.542.120.000 đồng. Tài khoản Ngân hàng V1 số [...] mang tên Lê Trung T3, ghi nhận ngày 15/07/2021, anh T1 chuyển đến với số tiền 5.000.000 đồng.
Thu giữ lịch sử cuộc gọi của số thuê bao 0886.805.887, không xác định được chủ số thuê bao. Ghi nhận bắt đầu có phát sinh liên lạc từ ngày 13/7/2021 với số thuê bao 0346.016.943, 0914.599.957 của anh T1. Từ ngày 21/6/2021 đến 27/9/2021 phát sinh cuộc gọi đi đến với số thuê bao 0965.230.145 là số điện thoại của anh Nguyễn Văn H1 chồng của Hiện. Anh H1 xác định số thuê bao 0886.805.887 này là của chị Nguyễn Thị H sử dụng thời gian về trước.
Thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0376.545.xxx là Nguyễn Phước G1, sinh năm 1979; trú tại: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Ông G1 xác định không sử dụng số thuê bao này, không biết lý do vì sao số thuê bao này mang tên ông. Trong thời gian từ ngày 01/12/2021 đến ngày 01/3/2022 phát sinh cuộc gọi đi, đến với số điện thoại 0914.599.xxx của anh T1. Hồi 09 giờ 15 phút ngày 21/12/2021, phát sinh cuộc gọi đến số điện thoại 0983.238.xxx của anh Phạm Văn C4, sinh năm 1970, trú tại xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Anh C4 khai nhận chỉ quen biết Nguyễn Thị H do có con học cùng con của Hiện. Hồi 08 giờ 22 phút ngày 22/12/2021, phát sinh cuộc gọi đến số điện thoại 0976.703.xxx của chị Nguyễn Thị T8, sinh năm 1947, trú tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; chị T8 khai nhận là người cùng thôn với Nguyễn Thị H nên có quan hệ quen biết qua lại với nhau. Thông tin chủ thuê bao của số điện thoại 0788.226.xxx, không có dữ liệu thông tin.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, số IMEI1: 359752073638382 là điện thoại của anh Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số IMEI1: 860343042123839 là điện thoại của anh Đỗ Xuân T2. 01 thẻ ATM Ngân hàng B1 số 9704 1801 2289 3944 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 thẻ ATM Ngân hàng V2 số 5239 7568 0365 8094 mang tên “NGUYEN THI HIEN"; 01 thẻ ATM Ngân hàng M số 9704 2220 0182 2154 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 thẻ ATM Ngân hàng V3 số 9704368692656717335 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 thẻ ATM Ngân hàng V2 số 5239 7568 8048 9942 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị H; 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung A12, màu đen, số IMEI 352884796492073, cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại có dán tem in số IMEI 1: 865039062536612, số IMEI 2: 865039062536604; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng là giấy tờ, tài sản của Nguyễn Thị H được chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo H trả anh tổng số tiền 2.547.120.000 đồng đến nay Hiện chưa trả số tiền trên.
Cáo trạng số 72/CT-VKS-P2 ngày 24/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị H và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 18 đến 19 năm tù, phạt bổ sung bị cáo từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước. Về trách nhiệm dân sự áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả anh Nguyễn Văn T1 số tiền 2.547.120.000 đồng. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
Quan điểm của Luật sư Nguyễn Minh P và Vũ Đức T người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Nhất trí về tội danh và điều khoản như Cáo trạng đã truy tố; tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt và xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo miễn hình phạt bổ sung.
Bị cáo Nguyễn Thị H nhất trí với bản bào chữa của các Luật sư và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bản sao kê các lần anh T1 chuyển tiền cho bị cáo tại ngân hàng cùng các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích chiếm đoạt tiền để chi tiêu cá nhân, lợi dụng việc anh
Nguyễn Văn T1 là quân nhân thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H có nhu cầu chuyển hệ số lương từ trung cấp lên đại học. Nguyễn Thị H đưa ra thông tin không có thật về bản thân có quen biết với nhiều lãnh đạo Bộ Q1, là con cháu của đồng chí Thượng tướng Nguyễn Huy H2 nguyên Thứ trưởng Bộ Q1 nên có khả năng chạy chuyển hệ số lương giúp anh T1. Đồng thời, Hiện giả giọng nói và lấy tên là T3 làm ở Bộ Q1; người tên P1 là cấp dưới của T3 và là con gái của đồng chí Bộ trưởng Bộ Q1 Phan Văn G; người tên P2 là vợ của đồng chí Bộ trưởng Bộ Q1, yêu cầu anh T1 chuyển tiền chi phí chạy chuyển hệ số lương, chạy chuyển từ ngạch quân nhân chuyên nghiệp sang ngạch sỹ quan, chạy lên chức Trưởng Ban Tài chính Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H, chạy thủ tục làm con nuôi Bộ trưởng Bộ Q1 Phan Văn G để chiếm đoạt tiền của anh T1. Tin tưởng các thông tin Hiện đưa ra là thật, trong thời gian từ ngày 13/7/2021 đến ngày 17/3/2022 anh Nguyễn Văn T1 đã chuyển 517 lần với tổng số tiền 2.547.120.000 đồng cho H và H đã chiếm đoạt số tiền nêu trên.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố là đúng người, đúng tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ với số tiền lớn, gây bức xúc cho người bị hại và làm mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thị H nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[4]. Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 2.547.120.000 đồng.
[6]. Về xử lý vật chứng :
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, số IMEI1: 359752073638382 cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT T1”, tại mép dán của phong bì có chữ ký của Vũ Phi H5, Trần Hữu G2,
Nguyễn Tuấn L1, Nguyễn Văn T1, là điện thoại của anh Nguyễn Văn T1 được trả lại cho anh T1.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số IMEI1: 860343042123839 cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT T2”, tại mép dán của phong bì có chữ ký của Vũ Phi H5, Trần Hữu G2, Nguyễn Tuấn L1, Đỗ Xuân T2, là điện thoại của anh Đỗ Xuân T2 được trả lại cho Đỗ Xuân T2.
- 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng B1 số 9704 1801 2289 3944 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V2 số 5239 7568 0365 8094 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng M số 9704 2220 0182 2154 mang tên “NGUYEN THI HIEN"; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V3 số 9704368692656717335 mang tên “NGUYEN THI HIEN"; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V2 số 5239 7568 8048 9942 mang tên “NGUYEN THỊ HIEN”; 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị H, 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại có dán tem in số IMEI 1: 865039062536612, số IMEI 2: 865039062536604; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng, phía trên bên trái màn hình có vết dạn nứt kính ở góc màn hình, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Mẫu vật hoàn trả sau giám định CAT Hà Nam”, tại mép dán có chữ ký của Đỗ Thị L2, Trần Hữu G2 đây là tài sản, giấy tờ của Nguyễn Thị H không sử dụng vào hành vi phạm tội nên trả lại cho Nguyễn Thị H.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung A12, màu đen, số IMEI 352884796492073 cũ đã qua sử dụng bị cáo dùng vào việc phạm tội vì vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[7]. Về các vấn đề khác:
- Đối với anh Đỗ Xuân T2 là người dẫn dắt để anh T1 biết và nhờ Hiện chạy chuyển hệ số lương, tuy nhiên anh T2 không biết việc Hiện lừa đảo để chiếm đoạt tiền của anh T1. Phát hiện thấy anh T1 bị Hiện lừa đảo chiếm đoạt tiền, anh T2 đã cùng anh T1 tố giác hành vi phạm tội của Hiện với cơ quan có thẩm quyền nên anh T2 không đồng phạm với Hiện về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và không phạm tội “Môi giới hối lộ” quy định tại Điều 365 Bộ luật Hình sự, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh không xem xét xử lý là có căn cứ.
- Đối với bà Nguyễn Thị Minh N, theo yêu cầu của Hiện anh T1 đã chuyển khoản cho bà N số tiền 5 triệu đồng. Bà N không biết số tiền Hiện chuyển trả nợ là tiền Hiện lừa đảo anh T1 mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh không xem xét xử lý là có căn cứ.
[8]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 4 và khoản 5 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g Điều 52, Điều 38, Điều 48, Điều 50 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự'; các Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt Nguyễn Thị H 17 (Mười bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Thị H 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Trả lại anh Nguyễn Văn T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, số IMEI1: 359752073638382 cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT T1”, tại mép dán của phong bì có chữ ký của Vũ Phi H5, Trần Hữu G2, Nguyễn Tuấn L1, Nguyễn Văn T1.
- - Trả lại anh Đỗ Xuân T2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số IMEI1: 860343042123839 cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT T2”, tại mép dán của phong bì có chữ ký của Vũ Phi H5, Trần Hữu G2, Nguyễn Tuấn L1, Đỗ Xuân T2.
- - Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H: 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng B1 số 9704 1801 2289 3944 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V2 số 5239 7568 0365 8094 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng M số 9704 2220 0182 2154 mang tên “NGUYEN THI HIEN"; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V3 số 9704368692656717335 mang tên “NGUYEN THI HIEN"; 01 (một) thẻ ATM Ngân hàng V2 số 5239 7568 8048 9942 mang tên “NGUYEN THI HIEN”; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng, mặt sau điện thoại có dán tem in số IMEI 1: 865039062536612, số IMEI 2: 865039062536604.01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng, phía trên bên trái màn hình có vết dạn nứt kính ở góc màn hình.
- - Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị H nhưng giao cho cơ quan thi hành án hình sự nơi bị cáo chấp hành án quản lý.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu SamSung A12, màu đen, số IMEI 352884796492073, cũ đã qua sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả anh Nguyễn Văn T1 tổng số tiền 2.547.120.000 đồng (Hai tỷ năm trăm bốn mươi bẩy triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).
-
Về án phí:
- - Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 82.942.400 đồng (Tám mươi hai triệu chín trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị hại có đơn yêu cầu cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên thì hàng tháng bị cáo phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Công Đoàn |
Bản án số 66/2024/HSST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 66/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Với mục đích chiếm đoạt tiền để chi tiêu cá nhân, lợi dụng việc anh Nguyễn Văn Tình là quân nhân thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Nam có nhu cầu chuyển hệ số lương từ trung cấp lên đại học. Nguyễn Thị Hiện đưa ra thông tin không có thật về bản thân có quen biết với nhiều lãnh đạo Bộ Quốc phòng, là con cháu của đồng chí Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nên có khả năng chạy chuyển hệ số lương giúp anh Tình. Đồng thời, Hiện giả giọng nói và lấy tên là Tuấn làm ở Bộ Quốc phòng; người tên Phượng là cấp dưới của Tuấn và là con gái của đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; người tên Phương là vợ của đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang, yêu cầu anh Tình chuyển tiền chi phí chạy chuyển hệ số lương, chạy chuyển từ ngạch quân nhân chuyên nghiệp sang ngạch sỹ quan, chạy lên chức Trưởng Ban Tài chính Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam, chạy thủ tục làm con nuôi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang để chiếm đoạt tiền của anh Tình. Tin tưởng các thông tin Hiện đưa ra là thật, trong thời gian từ ngày 13/7/2021 đến ngày 17/3/2022 anh Nguyễn Văn Tình đã chuyển 517 lần với tổng số tiền 2.547.120.000 đồng cho Hiện và Hiện đã chiếm đoạt số tiền nêu trên.
