|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày: 30-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hai và bà Nguyễn Thị Đẹp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Mỹ H, T gọi khác: C; Sinh năm: 1987; Nơi sinh:
Số H, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt)
2. Chị Nguyễn Thị Ánh L3, sinh năm 1974. Nơi cư trú : Số B, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 01/11/2023, Nguyễn Thị Ánh L3 và Nguyễn Thị Mỹ H gặp nhau tại quán nước không tên của bà “Út Móm” thuộc Khóm A, Phường C, thành phố S. Tại đây, H rủ L3 đi mua phế liệu ở địa bàn thành phố S và huyện L, được L3 đồng ý. H điều khiển xe mô tô loại xe tay ga chở L3 đem theo 02 cái bao (loại bao đựng phân bón) đi đến địa bàn xã H, huyện L, tỉnh Đ để mua phế liệu. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, L3 và H đi về đến khu vực gần bãi rác thuộc ấp P, xã T, thành phố S thì H rủ L3 đi vào bên trong xem có nhà dân để tài sản sơ hở thì lấy trộm, L3 đồng ý và đứng ở đầu đường Q để canh đường, còn H thì đi vào bên trong đường hướng vào bãi rác để tìm nhà dân có tài sản để sơ hở nhằm chiếm đoạt.
H đi vào cơ sở sản xuất bọc nylon H3 do bà Lê Thị Kim L1 làm chủ, lén lúc lấy 01 cái mô tơ nhãn hiệu Hitachi công suất 10Hp đem ra đưa cho L1 để cái mô tơ lên baga trước xe. H điều khiển xe mô tô chở L1 đi về đường P thuộc Khóm A, Phường C, thành phố S. Khi đến đầu đường P thì H dừng xe lại bước xuống xe kêu L1 đi bán mô tơ xong rồi quay trở lại đầu đường sẽ gặp H để chia tiền, nghe vậy L1 điều khiển xe đi đến gặp và bán cái mô tơ vừa trộm được cho ông Lê Trần Thanh L2 (B1) với giá 200.000 đồng. Sau khi bán xong L1 điều khiển xe đến đầu đường P thì gặp H. Tại đây, L1 và H chia đều số tiền bán mô tơ mỗi người được 100.000 đồng, L1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 07 giờ ngày 24/11/2023, L1 và H gặp nhau tại quán nước của bà “Út Móm” rủ nhau đi mua phế liệu. L1 đi về nhà mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu đỏ đen, biển số 66L1-9252 của con tên Nguyễn Thị Ánh T1. L1 điều khiển xe trở lại quán nước rước H có kéo theo chiếc xe kéo tự chế bằng sắt để đi lòng vòng nội ô xã T, thành phố S. Khi đến khu vực vòng xoay C thì L1 dừng xe lại đậu xe ở đường Q rồi cả 02 cùng đi vào đường hẻm tìm tài sản của người dân lấy trộm. Khi đi đến Cơ sở sản xuất cọc ép bê tông “Hòa Đồng” do ông Lữ Hòa Đ làm chủ, địa chỉ: ấp P, xã T, thành phố S thì cả 02 cùng thấy bên hông cơ sở có 01 xe ô tô tải của ông Đ đang đậu. Cả 02 leo lên tìm trên thùng xe tải thì thấy có 02 cuộn dây điện và 01 ổ cắm điện nên L1 và H cùng nhau khiêng 02 cuộn dây điện hiệu Cadivi 6.0 chiều dài khoảng 200 mét và 01 ổ cắm điện hiệu SoPoKa đã qua sử dụng xuống đất rồi đem ra để lên xe kéo. L1 điều khiển xe mô tô còn H thì ngồi phía sau kéo theo xe kéo chở dây điện và ổ điện trộm được đem về bãi đất trống gần B, thành phố S. L1, H cùng khiêng 02 cuộn dây điện và 01 ổ điện xuống đất rồi đốt hết vỏ dây bên ngoài để lấy dây đồng. H ở lại khu đất trống đợi, còn L1 đi một mình đem dây đồng đến gặp ông Lê Trần Thanh L2 bán được số tiền 150.000 đồng. L1 quay trở về khu đất trống ở B để gặp H chia đều số tiền này mỗi người được 75.000 đồng, L1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi bị mất tài sản bà Lê Thị Kim L1 và ông Lữ Hòa Đ đến Công an xã T, thành phố S trình báo sự việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 12/KL-HĐĐGTS, ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố S, kết luận như sau:
- - 01 (Một) cái mô tơ nhãn hiệu Hitachi, công suất 10Hp, đã qua sử dụng. Vào ngày 01/11/2023 có trị giá là: 2.267.000 đồng.
- - 02 (Hai) cuộn dây điện hiệu Cadivi 6.0, lõi bằng đồng chiều dài 200 mét, đã qua sử dụng. Vào ngày 24/11/2023 trị giá là: 4.067.000 đồng.
- - 01 (Một) ổ cắm điện hiệu SoPoKa, đã qua sử dụng. Vào ngày 24/11/2023 trị giá là: 80.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản H chiếm đoạt có trị giá là 6.414.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKSTPSÐ, ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, đã truy tố Nguyễn Thi Mỹ H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng đã xử lý xong.
Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận; xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 01/11/2023 và 24/11/2023, tại địa bàn ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt các tài sản gồm: mô tơ, dây điện, ổ cắm điện, có tổng trị giá là 6.414.000 đồng của bà Lê Thị Kim L1, ông Lữ Hòa Đ, nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
[3] Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Với giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.414.000 đồng thì hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:………”
[4] Hành vi lấy trộm tài sản của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo tuổi đời còn trẻ, hoàn toàn có đủ sức khỏe để lao động, tạo thu nhập hợp pháp để chăm lo cho bản thân và gia đình; nhưng với bản tính lười lao động, lại muốn có tiền tiêu xài mà không cần bỏ ra nhiều công sức, cùng với ý thức xem thường pháp luật, dù đã bị xử phạt hành chính, nhưng vẫn nhiều lần lợi dụng việc đi mua phế liệu để tìm tài sản của người khác để sơ hở mà lấy trộm, thậm chí còn bỏ trốn trong quá trình điều tra, gây nhiều khó khăn cho cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H nhiều lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, trong đó có 02 lần chiếm đoạt tài sản có trị giá trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo
X tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo; nhằm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã được xem xét, giải quyết xong theo Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Thị Ánh L3 có hành vi cùng H lén lút lấy trộm 01 mô tơ của bà Lê Thị Kim L1 và 02 cuộn dây điện, 01 ổ cắm điện của ông Lữ Hòa Đ đã bị Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 52/2024/HS-ST ngày 14/8/2024. Đồng thời, việc anh Lê Trần Thanh L2 có mua 01 mô tơ, 02 cuộn dây điện, 01 ổ cắm điện do L1 bán cũng đã được xem xét giải quyết xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã được xem xét, giải quyết xong theo Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H (tên gọi khác: C) phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (06/8/2024).
Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hoàng Minh |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt chín tháng tù
