|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-ST |
|
|
Ngày 28 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm
- Ông Lê Đăng Thiện
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:
- Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với Bị cáo: Hà Văn T, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2004 tại thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Khu phố I thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Hà Văn L, sinh năm 1985; Mẹ đẻ: Hà Thị T1, sinh năm 1986; Gia đình có 02 anh em, Bị cáo là con thứ 1; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến ngày 19/4/2024 được thay thế Biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Anh Lê Đức V, sinh năm 1983. Đã chết
- Chị Lê Thị T2, sinh năm 1986. Đã chết
- Cháu Lê Đức Gia H, sinh năm 2021. Vắng mặt
- Cháu Trần Gia B, sinh năm 2013. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
- Người đại diện hợp pháp của Bị hại anh Lê Đức V và cháu Lê Đức Gia H:
Anh Lê Đức L1, sinh năm 1981. Có mặt
Địa chỉ: Thôn M xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện hợp pháp của Bị hại Lê Thị T2:
Ông Lê Hữu S, sinh năm 1957. Có mặt
Địa chỉ: Thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện hợp pháp của Bị hại Trần Gia B:
- Anh Trần Văn B1, sinh năm 1984. Có mặt
- Chị Lê Thị T3, sinh năm 1987. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của B2 hại Trần Gia B và Lê Đức Gia H: Ông Nguyễn Ngọc K - Trợ giúp viên pháp lý. Có mặt
Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 6- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
- Người làm chứng:
- Anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1990. Có mặt
- Chị Cao Thị V1, sinh năm 1983. Vắng mặt
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1957. Vắng mặt
- Cháu Lê Thị Thùy L2, sinh năm 2007. Có mặt
- Ông Hà Văn B3, sinh năm 1958. Có mặt
- Bà Trần Thị S1, sinh năm 1960. Có mặt
Địa chỉ: Khu phố I thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện hợp pháp của cháu L2: Ông Lê Hữu S. Có mặt
Cùng địa chỉ: Thôn B xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Cùng địa chỉ: Khu phố I thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Khoảng 11h 30 phút ngày 15/02/2024 Hà Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA SELTOS, biển kiểm soát 36A - 831.61 chở theo bà Trần Thị S1, ông Hà Văn B3 (là ông bà nội của T) và cháu Hà Huyền M (sinh năm 2021 là em họ của T) di chuyển từ xã X, huyện T về nhà ở khu phố I thị trấn S, huyện T. Quá trình xe đang di chuyển bà S1 ngồi ở ghế phụ bên cạnh T, ông B3 ngồi ở ghế sau và bế cháu M. Khoảng 11h 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đi đến Km30 Quốc lộ D đoạn qua thôn A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo hướng từ xã T đi đến xã N. Khi xe ô tô của T đang di chuyển đến đoạn đường vòng cua phải theo hướng di chuyển, cháu M quấy khóc đòi lên ghế trước ngồi với bà S1 làm cho T phân tâm không chú ý quan sát phía trước. Khi xe ô tô đi đến đoạn đường vòng cua, T điều khiển xe đi sang phần đường bên trái và không phát hiện có xe mô tô đang đi theo hướng ngược chiều đến. Xe mô tô biển kiểm soát 36D1-313.02 do
chị Lê Thị T2 điều khiển chở theo anh Lê Đức V (là chồng), cháu Lê Đức Gia H(con trai chị T2) và cháu Trần Gia B (cháu ruột chị T2) đang di chuyển từ hướng ngược chiều đã bị xe ô tô biển kiểm soát 36A - 831.61 do T điều khiển đâm va. Việc va chạm làm bung túi khí trên xe ô tô do T điều khiển, T hoảng loạn nên đã đạp nhầm chân ga làm cho xe ô tô tiếp tục di chuyển về trước và húc đẩy xe mô tô do chị T2 điều khiển trượt trên đường hơn 20m thì T mới đạp phanh dừng xe ô tô lại. Thời điểm sảy ra va chạm có chị Cao Thị V1 điều khiển xe mô tô chở theo bà Lê Thị H1 đi cùng chiều phía sau chị T2 chứng kiến sự việc. Sau đó T cùng mọi người đưa chị T2, anh V, cháu H và cháu B đến bệnh viện đa khoa huyện T cấp cứu. Chị T2 và anh V đã chết trên đường đi cấp cứu. Cháu H và cháu B bị thương nặng được chuyển đến bệnh viện tuyến trên điều trị. Hà Văn T, ông Hà Văn B3, bà Trần thị S1 và cháu Hà Huyền M không bị thương tích gì. Hai phương tiện bị hư hỏng.
Sau khi gây tai nạn Hà Văn T đã đến Công an xã T xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Kết quả khám nghiệm hiện trường
Hiện trường nơi sảy ra tai nạn là Km30 Quốc lộ D đoạn thuộc thôn A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Đường được rải nhựa bằng phẳng, độ rộng là 6,5m, ở giữa có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt. Đoạn đường nơi sảy ra tai nạn tương đối thẳng; H đường Đ - T. Trong đó hướng Đông là hướng đi UBND xã T, tiếp giáp với hướng vòng cua trái theo hướng đi về hướng Đông. Hướng T5 là hướng đi xã N; Hướng Bắc tiếp giáp với cánh đồng lúa, lề đường hướng Bắc là lề đất rộng 01m; Phía Nam tiếp giáp với bãi đất trống, lề đường hướng Nam có rãnh thoát nước được thiết kế nắp bê tông phía trên, tạo gờ cao so với mặt đường là 0,15m.
Quá trình khám nghiệm hiện trường lấy mép đường bên phải theo hướng đi UBND xã T làm vạch chuẩn, ký hiệu “A”; Lấy cột mốc ký hiệu “QL47C/KM30” tại lề đường bên phải theo hướng đi xã N làm điểm mốc, từ điểm mốc kẻ đường thẳng vuông góc với vạch chuẩn tạo đường cố định, ký hiệu “B” phát hiện:
- - 01 vết tỳ trượt trên bề mặt gờ thành cống rãnh thoát nước tại lề đường hướng Nam; Vết hình vòng cung, theo chiều Đ -Tây. Vị trí vết: Đầu vết nằm trên A, cách B là 16,9m về hướng Đông; Điểm cuối vết nằm trên A. Vết in vân dạng vân lốp xe ô tô và bề mặt bám dính chất màu đen dạng cao su. Vết dài 10,3m, độ rộng bề mặt vết là 0,15m. Ký hiệu (1).
- - 01 vết tỳ, cà trượt không liên tục dài 21,5m; Vết có chiều Đ- Tây. Vị trí vết: Đầu vết cách A là 0,9m, cách đầu vết (1) là 4,1m về hướng tây(chếch T); Cuối vết cách A là 0,7m; Phần đầu vết có vết tì trượt màu đen, dạng cao su; Tiếp đến là các vết cà trượt có diện rộng nhất là 0,15m, các vết đơn rộng từ 0,01m - 0,03m. Ký hiệu (2).
- - Xe ô tô biển kiểm soát 36A - 831.61, đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. Vị trí xe ô tô: T6 bánh xe sau bên trái cách A là 0,45m, cách đầu vết (2) là 13,6m về hướng Tây; T6 bánh xe trước bên trái cách A là 0,75m. Ký hiệu (3).
- - Xe mô tô biển kiểm soát 36D1-313.02 có đầu xe quay hướng Đông Bắc, đuôi xe quay hướng T. Vị trí xe mô tô: T6 bánh xe sau cách A là 0,4m, cách tâm bánh trước bên trái xe ô tô (3) là 6m về hướng Tây; T6 bánh trước cách A là 1,2m. Xe mô tô nằm đổ bên trái xuống mặt đường ký hiệu (4).
- - Tại hiện trường xác định vùng mảnh vỡ nằm rải rác trên mặt đường, tập trung tại phần đường bên phải theo hướng đi UBND xã T; Trên diện kích thước (25 x 3,4)m, kéo dài từ đầu vết (1) đến vị trí xe mô tô số (4).
Kết quả xác minh biển báo giao thông đường bộ:
- - Tại đoạn đường sảy ra tai nạn giao thông ở lề đường phải theo hướng xã T đi N có biển báo khu vực đông dân cư (ký hiệu R.420).
- - Tại đoạn đường sảy ra tai nạn giao thông ở lề đường phải theo hướng xã N đi T có biển báo “đi chậm” (ký hiệu W.245a) và biển cảnh báo đường giao nhau (ký hiệu W.205c) hai biển này được gắn trên cùng một cột. Cách khoảng 30m theo hướng đi của làn đường này có biển hạn chế tốc độ dưới 40km/h (ký hiệu P.127).
- - Tại lề đường phải theo hướng xã N đi T cách vị trí xảy ra tai nạn giao thông là 100m về hướng ngược lại có biển cảnh báo đường bị hẹp (ký hiệu 203c).
- - Tại lề đường phải theo hướng xã N đi T cách vị trí xảy ra tai nạn giao thông là 350m về hướng ngược lại có hệ thống biển báo: 01 biển và đèn vàng cảnh báo chú ý quan sát; 01 cột gắn 02 biển cảnh báo “đi chậm” (ký hiệu W.245a) và biển cảnh báo đường giao nhau (ký hiệu W.205b); 01 biển hạn chế tốc độ dưới 40km/h (ký hiệu P.127).
Ngày 15/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định số 383 trưng cầu phòng K1 Công an tỉnh T giám định dấu vết va chạm cơ học. Tại Kết luận giám định số 852/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T kết luận:
- + Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước bên phải ba đờ sốc trước cách thành xe bên trái 115cm xe ô tô biển kiểm soát 36A - 831.61 với mặt và má hai bên lốp trước, tương ứng hàng chữ “MADEIN VIỆT NAM” (tại má trái) xe mô tô biển kiểm soát 36D1-313.02.
- + Tại thời điểm va chạm hai phương tiện chuyển động ngược chiều nhau.
- + Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết tỳ, cà trượt (2) tại hiện trường, thuộc phần đường theo hướng từ xã N đi T.
- + Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm sảy ra tai nạn giao thông;
Tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở của Hà Văn T tại thời điểm 12h 27 phút ngày 15/02/2024 là 0,000mg/l; Xét nghiệm nước tiểu của T, kết quả âm tính với các chất gây nghiện(ma túy).
Ngày 16/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 387, trưng cầu giám định chất ma túy. Tại Bản kết luận giám định số 1145/KL-KTHS ngày 27/02/2024 của V2 Bộ C kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu của Lê Đức V và Lê Thị T2.
Ngày 16/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 388, trưng cầu giám định nồng độ cồn. Tại Bản kết luận giám định số 955/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- + Mẫu máu của Lê Đức V gửi giám định có nồng độ cồn là 31,44mg/100ml máu.
- + Mẫu máu của Lê Thị T2 và Hà Văn T gửi giám định không có cồn.
Tiến hành tra cứu Giấy phép lái xe của Hà Văn T và Lê Thị T2, kết quả xác định: Hà Văn T có Giấy phép lái xe hạng B2, được cấp ngày 30/11/2023 và có giá trị đến ngày 30/11/2033; Lê Thị T2 không có giấy phép lái xe mô tô.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh T giám định pháp y tử thi đối với anh Lê Đức V và chị Lê Thị T2; T9 Bộ C giám định pháp y thương tích đối với cháu Lê Đức Gia H và Trần Gia B.
* Kết quả giám định pháp y tử thi Lê Đức V: Ngày 15/02/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu số 381, trưng cầu giám định nguyên nhân chết của Lê Đức V. Tại Kết luận giám định tử thi số 636/KLGĐTT-PC09, ngày 20/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- - Kết quả khám nghiệm: Các vết rách da, xây xước da, sưng nề, bầm tụ máu tại vùng: Đầu, mặt, vai, lưng, hai tay, chân phải; Tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng đỉnh chẩm hai bên, thái dương phải và một phần cơ thái dương phải; Vỡ xương hộp sọ; Tụ máu dưới màng cứng, tụ máu lan tỏa màng mềm
- - Kết luận nguyên nhân chết: Vỡ xương hộp sọ, tụ máo não.
* Kết quả giám định pháp y tử thi Lê Thị T2: Ngày 15/02/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu số 382, trưng cầu giám định nguyên nhân chết của Lê Thị T2. Tại Kết luận giám định tử thi số 637/KLGĐTT- PC09, ngày 20/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- - Kết quả khám nghiệm: Các vết rách da, xây xước da, sưng nề, bầm tụ máu tại vùng: Mặt, bụng, lưng, tứ chi; Gãy 1/3 xương đùi phải; Gãy 1/3 trên xương đùi trái; Tụ máu rải rác tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng; Gãy 1/3 giữa thân xương ức. Gãy cung trước xương sườn 3, 4, 5, 6, 7, 8 bên phải; Gãy cung trước xương sườn 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 bên trái; Dịch máu tại: Khoang ngực, ổ bụng; Dập, rách, tụ máu hai phổi; Thức ăn trong dạ dày thoát vào ổ bụng; Dập vỡ gan; Vỡ dạ dày.
- - Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
* Kết quả giám định pháp y thương tích của Lê Đức Gia H:
- - Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 15/02/2024 xác định cháu Lê Đức Gia H bị các thương tích sau: 01 vết sưng nề vùng trán trái; 01 vết xây xước da ở vùng bụng, không rõ hình; 01 vết rách da ở mặt ngoài cẳng chân trái và mắt cá chân trái. Thời điểm xem xét dấu vết trên thân thể H đang được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện N, tình trạng hôn mê.
- - Ngày 03/4/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 545, trưng cầu giám định pháp y thương tích đối với cháu Lê Đức Gia H. Tại Kết luận giám định số 2541/KL- KTHS, ngày 12/4/2024 của V2 Bộ C kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Lê Đức Gia H tại thời điểm giám định là 29%.
* Kết quả giám định pháp y thương tích của Trần Gia B:
- - Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 15/02/2024 xác định cháu Trần Gia B bị các thương tích sau: Tại vùng má cung mày phải và trán có nhiều vết xây xước da, gỉ máu; Bụng chướng nhẹ, đau khắp vùng bụng, có vết bầm tím trên da vùng hạ sườn phải; Vùng bẹn phải có vết thương rách da kích thước (7 x 0,5) cm, đang gỉ máu; Cẳng tay phải có vết thương đã được băng bó và nẹp gỗ; Vùng cổ chân bên trái bị xây xước.
- - Ngày 03/4/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 546, trưng cầu giám định pháp y thương tích đối với cháu Trần Gia B. Tại Kết luận giám định số 2540/KL- KTHS, ngày 12/4/2024 của V2 Bộ C kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Trần Gia B tại thời điểm giám định là 58%.
Cơ quan điều tra Công an huyện T đã thu thập 02 tệp Video, ghi nhận hình ảnh của các hộ dân sinh sống tại khu vực hiện trường xảy ra vụ án.
Ngày 20/02/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 396, trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử các video trên. Tại bản kết luận giám định số 1873/KL-KTHS ngày 14/5/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- - Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong hai file video gửi giám định. Trích xuất 06 ảnh từ file video trên.
- - Không xác định được tốc độ di chuyển của xe ô tô và xe mô tô ngay trước khi sảy ra va chạm.
Ngày 20/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 610, yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự huyện T định giá giá trị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 36A - 831.61 và xe mô tô biển kiểm soát 36D1-313.02 bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Tại Kết luận địnhgiá tài sản số 15/KL-HĐĐG ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự huyện T kết luận:
Giá trị tài sản bị hư hỏng cần sửa chữa, thay thế tại thời điểm sảy ra tai nạn giao thông là :
- - Đối với xe ô tô biển kiểm soát 36A - 831.61 là 61.357.200đ;
- - Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36D1-313.02 là 11.767.500đ.
Về phương tiện giấy tờ bị tạm giữ: Xe mô tô biển kiểm soát 36D1-313.02 nhãn hiệu Honda AIR BLADE màu sơn Vàng Đen là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Lê Đức V và chị Lê Thị T2; Xe ô tô biển kiểm soát 36A - 831.61 nhãn hiệu SEL TOS màu sơn Trắng kèm theo giấy tờ xe là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Hà Văn T7; 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Hà Văn T. Tất cả phương tiện và giấy tờ trên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình Bị hại anh Lê Đức V, chị Lê thị T2 và cháu Lê đức Gia H số tiền 790.000.000đ; Bồi thường cho Bị hại là cháu Trần Gia B số tiền 230.000.000đ. Các bên không có yêu cầu bồi thường gì khác. Bị hại và đại diện hợp pháp của Bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
Anh Hà Văn T7 không yêu cầu đề nghị bồi thường Dân sự về hư hỏng xe ô tô biển kiểm soát 36A - 831.61.
Cáo trạng số 62/CT-VKSTX ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Hà Văn T về tội : "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Bị cáo Hà Văn T phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 điều 260; Điểm s, b khoản 1, 2 điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Bị cáo Hà Văn T từ 20 (hai mươi) tháng tù đến 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam thi hành án được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến ngày 19/4/2024; Không phạt bổ sung đối với Bị cáo; Buộc Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
Bị cáo; Đại diện hợp pháp của Bị hại không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Đại diện hợp pháp của Bị hại đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của B2 hại Trần Gia B và Lê Đức Gia H trình bày ý kiến: Vụ tai nạn sảy ra các Bị hại Trần Gia B và Lê Đức Gia H đều phải chịu thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên Bị cáo và gia đình Bị cáo và Đại diện hợp pháp của các Bị hại đã thống nhất thỏa thuận xong phần bồi thường thiệt hại.
Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm được trở về cùng gia đình và tái hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của Bị cáo tại cơ quan điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào khoảng 11h 40 phút ngày 15/02/2024 tại Km30 đường Q đoạn qua thôn A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Bị cáo Hà Văn T có bằng lái xe ô tô hạng B2, do không chú ý quan sát, không đi đúng phần đường theo quy định đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36A - 831.61 nhãn hiệu SEL TOS màu sơn T8 đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 36D1-313.02 nhãn hiệu Honda AIR BLADE màu sơn Vàng Đen do chị Lê Thị T2 điều khiển chở theo anh Lê Đức V, cháu Lê Đức Gia H và cháu Trần Gia B. Hậu quả: Anh Lê Đức V và chị Lê Thị T2 tử vong; Hai cháu Trần Gia B và Lê Đức Gia H bị thương tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 87%, hai phương tiện bị hư hỏng tổng thiệt hại là 76.124.700đ. Hành vi của Bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Bị cáo T tham gia giao thông đường bộ đã vi phạm khoản 9, 17, 23 Điều 8 và khoản 1 điều 9 Luật giao thông đường bộ gây thiệt hại về tính mạng làm chết hai người. Do đó Bị cáo T phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự.
Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 BLHS.
Cáo trạng số 62/CT-VKSTX ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Hà Văn T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng.
[4]. Về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của Bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, Bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại về tính mạng của người khác. Trong tình hình hiện nay tình trạng vi phạm luật giao thông đường bộ đang là mối quan tâm của toàn xã hội, hậu quả của những vi phạm này là nghiêm trọng, ảnh hưởng tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy hành vi phạm tội của Bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh .
[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của Bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có có Tiền án, Tiền sự; Không có tình tiêát tăng nặng trách nhiệm Hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa Bị cáo đều thành khẩn khai báo; Gia đình Bị cáo và Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại khắc phục hậu quả cho Bị hại nên Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã đầu thú; Bị cáo có ông nội là ông Hà Văn B3 là thương binh và các đại diện hợp pháp của các Bị hại đều có Đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo nên Bị cáo được hưởng thêm 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: HĐXX xét thấy: Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên cần thiết phải bắt Bị cáo cách ly xã hội một thời gian. Tuy nhiên Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý; Bị cáo có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự nên HĐXX áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự cho Bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt để Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật và cũng đủ sức cải tạo, giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[7]. Về phần dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình Bị hại anh Lê Đức V, chị Lê Thị T2 và cháu Lê Đức Gia H số tiền 790.000.000đ; Bồi thường cho Bị hại là cháu Trần Gia B số tiền 230.000.000đ. Bị hại và đại diện hợp pháp của Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác. Anh Hà Văn T7 không yêu cầu đề nghị bồi thường Dân sự về hư hỏng xe ô tô biển kiểm soát 36A - 831.61 nên HĐXX không xem xét.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người đại diện hợp pháp của Bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 điều 260; Điểm s, b khoản 1, 2 điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .
- - Xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến ngày 19/4/2024; Không phạt bổ sung đối với Bị cáo;
- - Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;
- Buộc Bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000đ án phí HSST nộp ngân sách Nhà nước.
- - Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Bị cáo, Bị hại và đại diện hợp pháp của Bị hại có mặt có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản sao Bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Tuân gây tai nạn giao thông
