Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 18 – 9 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phước Trung
  2. Bà Trịnh Thị Thu Hà

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Tuấn K, sinh ngày 29/9/1978 tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng; tên gọi khác: không; nơi cư trú: số E khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thành L và bà Nguyễn Thị V; bị cáo có vợ tên Đặng Phước H, sinh năm: 1984, có 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Văn T – Văn phòng luật sư Phạm Văn T thuộc đoàn luật sư thành phố C (có mặt).

- Bị hại: Dương Thanh A, sinh năm: 2003, địa chỉ: số C, ấp L, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Lê Tấn Đ, sinh năm: 1996, địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Nhựt V1, sinh năm: 1999, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
  3. Ông Lê Nhựt B, sinh năm: 1993, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
  4. Ông Trần Hoàng K1, sinh năm: 2003, địa chỉ: số E khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ (có mặt).
  5. Ông Trần Văn H1, sinh năm: 2000, địa chỉ: ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
  6. Ông Phan Hồng P, sinh năm: 2002, địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
  7. Ông Dương Thanh N, sinh năm: 1979, địa chỉ: số C, ấp L, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 24/8/2023, Trần Tuấn K điều khiển xe mô tô có va chạm với xe mô tô của Lê Nhựt B, sinh ngày 20/12/1993, tên thường gọi là L1, lúc này cả hai có cự cãi qua lại rồi điều khiển xe bỏ đi. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/8/2023, B đến nhà của Trần Văn H1 thuộc ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang chơi và kể lại cho H1 nghe chuyện va chạm với xe mô tô của K, rồi kêu Hoá chiều ngày 25/8/2023 ra khu Công nghiệp T tìm K để nói chuyện, H1 đồng ý.

Đến khoảng 14 giờ ngày 25/8/2023, H1 điện thoại cho Lê Tấn Đ, sinh ngày 28/12/1996, nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang để mời ra quán cà phê Đ tại thị trấn C uống cà phê. Lúc này, Đ đồng ý và kêu Phan Hồng P, sinh ngày 24/4/2002, nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 65C1-019.65 chở Đ đến quán Đ1, lúc đi Đ mang theo một cây gậy 03 khúc bằng kim loại, màu trắng, dạng hình tròn, dài khoảng 60cm.

Khi Đ và P đến quán Đ1 gặp H1 và B, H1 kể lại cho cả hai nghe chuyện B xảy ra va chạm giao thông với Trần Tuấn K, rồi H1 rủ Đ và P đi tìm đánh Trần Tuấn K, đồng thời hỏi mượn cây gậy 03 khúc bằng kim loại của Đ, thì Đ và P đồng ý. Lúc này, Lê Nhựt B điều khiển xe mô tô, loại xe Dream (không xác định được biển kiểm soát) chở Trần Văn H1 phía sau, Phan Hồng P điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 65C1-019.65 chở Lê Tấn Đ ngồi phía sau đi từ quán Đ1 đến cổng Công ty TNHH L2 toạ lạc thuộc Khu Công nghiệp T. Khi đến cổng Khu Công nghiệp T, Bình điện thoại cho Nguyễn Nhựt V1, sinh ngày 04/4/1999, nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang nói đã đến cổng Khu Công nghiệp và hỏi về thông tin của Trần Tuấn K nhưng V1 không biết, B nói đợi ngoài cổng và kêu V1 đi ra, rồi V1 rủ theo Dương Thanh A, sinh ngày 05/01/2003, nơi cư trú: ấp L, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang đi xem đánh nhau thì A đồng ý.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/8/2023, V1 và A gặp B ở cổng Công ty TNHH L2, rồi V1 điều khiển xe biển kiểm soát 95E2-115.61, A điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 95H1-177.03 và B điều khiển xe mô tô đi đến trước cổng Công ty D gặp H1, Đ, P. Cả nhóm ngồi đợi để tìm xe của Trần Tuấn K, một lúc sau Trần Tuấn K tan ca điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 65B2-467.28 chở phía sau là con ruột tên Trần Hoàng K1, sinh ngày 24/01/2003 đi từ Công ty TNHH L2 về nhà. Khi đến đoạn đường gần Công ty T1 trên Quốc lộ A thuộc ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang thì nhóm của B nhìn thấy nên đuổi theo. Lúc này, V1 điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 95E2-115.61 chặn đầu xe của K, A điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 95H1-177.03 dựng phía ngoài, Lê Nhựt B điều khiển xe môtô chở Trần Văn H1 chặn phía sau, Phan Hồng P điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 65C1-019.65 chở Lê Tấn Đ dựng xe phía sau xe B. Sau đó, Trần Văn H1 xuống xe dùng cây gậy 03 khúc bằng kim loại đánh vào vai, lưng của Trần Tuấn K và Trần Hoàng K1, thì K và K1 bỏ chạy theo 02 hướng khác nhau.

Khi Trần Tuấn K chạy về hướng Bệnh viện số 10 thì Trần Văn H1 và Lê Nhựt B rượt đuổi theo. K chạy được khoảng 05 mét, thì lấy tay phải rút từ túi quần bên phải ra một cây dao xếp bằng kim loại có cán màu vàng, mũi nhọn, cán và lưỡi dài khoảng 20cm quay lại rượt đuổi H1 và B, làm cả hai bỏ chạy lại hướng Dương Thanh An. Lúc này, thấy K cầm dao nên A dùng tay giật lấy cây dao của K nhưng không được và bị K dùng tay phải cầm dao đâm trúng nhiều nhát vào vùng bụng và hạ sườn trái của A gây thương tích. Thấy A bị đâm, V1 lấy từ cóp xe 01 cây gậy 03 khúc bằng kim loại màu trắng, dạng tròn dài 65cm, cán ốp nhựa màu đen chạy đến đánh trúng vào tay phải và người của K làm K bị rớt cây dao, rồi Lê Nhựt B giật lấy cây gậy 03 khúc của H1 tiếp tục đánh nhiều cái vào người của K làm K ngã gục xuống đường. Sau đó, Dương Thanh A dùng tay và chân đánh, đạp nhiều cái trúng vào người của Trần Tuấn K làm K bất tỉnh, nên cả nhóm điều khiển xe bỏ đi.

Đối với Dương Thanh A sau khi đánh Trần Tuấn K đâm gây thương tích được V1, B chở đến bệnh viện Đ2 cấp cứu sau đó chuyển đến bệnh viện Đ3 điều trị đến ngày 30/8/2023 thì xuất viện. Đối với Trần Tuấn K sau khi bị nhóm của B đánh gây thương tích thì được Trần Hoàng K1 chở đến bệnh viện Đ2 cấp cứu rồi chuyển đến bệnh viện Đa khoa thành phố Đ3 điều trị đến ngày 31/8/2023 thì xuất viện.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 237/KLTTCT-TTPYCT ngày 15/11/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh H đối với Dương Thanh A kết luận:

“1. Các kết quả chính: Vết sẹo hạ sườn trái; Đa vết sẹo phẫu thuật vùng bụng; Thủng gan hạ phân thùy IV.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Thanh A tại thời điểm giám định: 35% (Ba mươi lăm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.”

2.2. Cơ chế hình thành vết thương: Vết sẹo vùng thượng vị và hạ sườn trái của ông Dương Thanh A do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.

2.3. Vật gây thương tích: Vết sẹo vùng thượng vị và hạ sườn trái do vật sắc nhọn gây nên”.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 238/KLTTCT-TTPYCT ngày 15/11/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh H đối với Trần Tuấn K kết luận.

“1. Các kết quả chính: Đa vết sẹo phần mềm vùng đỉnh, mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải, mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, mu bàn tay phải và mu bàn tay trái.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Tuấn K tại thời điểm giám định: 07% (Bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.”

2.2. Cơ chế hình thành vết thương:

- Vết sẹo vùng đỉnh, mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, mu bàn tay phải và mu bàn tay trái do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

- 02 vết sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải do vật tày tác động gián tiếp gây nên.

2.3. Vật gây thương tích: Vết sẹo vùng đỉnh, 02 vết sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải, mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, mu bàn tay phải và mu bàn tay trái do vật tày gây nên”.

Tại Cáo trạng số 64/CT-VKS-HCTA, ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố Trần Tuấn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Kiểm sát viên luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Tuấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Tuấn K mức án từ 02 năm đến 03 năm tù, thời hạn từ tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra giữa bị cáo và bị hại thoả thuận bồi thường xong nên không xem xét giải quyết. Đối với thiệt hại mất thu nhập ngày công lao động của người chăm sóc bệnh ông Dương Thanh N (cha bị hại) yêu cầu bị cáo bồi thường 11 ngày X 300.000 đồng/ngày = 3.300.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của ông N nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ 01 cây gậy 03 khúc bằng kim loại màu trắng, dạng tròn dài 65cm, cán ốp nhựa màu đen đã qua sử dụng; 01 bộ áo thun thể thao màu trắng, có hoa văn phía trước, áo cổ tròn, tay ngắn viền màu xanh; 01 quần tây nam màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu trắng, mỏ kết nón màu đen có ghi chữ N.

Luật sư Phạm Văn T trình bày lời bào chữa cho bị cáo: về tội danh thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện viện kiểm sát; về tình tiết giảm nhẹ nhận thấy bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tích cực bồi thường thiệt hại xong cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, có một phần lỗi của bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, e, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức án nhẹ nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo Trần Tuấn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo để có điều kiện lo cho gia đình. Về trách nhiệm dân sự đồng ý bồi thường cho ông Dương Thanh N số tiền 3.300.000 đồng.

Bị hại Dương Thanh A tranh luận: về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ cho bị cáo, về trách nhiệm dân sự đã thoả thuận và bị cáo đã bồi thường xong nên không yêu cầu gì thêm. Về vật chứng gồm 01 bộ áo thun thể thao màu trắng, có hoa văn phía trước, áo cổ tròn, tay ngắn viền màu xanh; 01 quần tây nam màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu trắng, mỏ kết nón màu đen có ghi chữ Nón Sơn là của bị hại, bị hại không yêu cầu nhận lại và đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Dương Thanh N: vẫn giữ nguyên yêu cầu bị cáo bồi thường 11 ngày công lao động thu nhập thực tế bị mất do nghỉ nuôi bệnh cho bị hại là 3.300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xem hợp pháp.

[2] Xét về tố tụng: sau khi Toà án có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị cáo mới yêu cầu luật sư Phạm Văn T bào chữa cho bị cáo, luật sư Phạm Văn T đã làm thủ tục đăng ký bào chữa đầy đủ theo quy định và tại phiên toà bị cáo vẫn đồng ý người bào chữa nên chấp tư cách người bào chữa của luật sư Phạm Văn T. Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Tấn Đ, Phan Hồng P. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra người này đã có cung cấp lời khai rõ ràng, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

[3] Xét về trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Tuấn K:

Tại phiên tòa bị cáo Trần Tuấn K thừa nhận đã thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tình tiết, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: xuất phát từ việc mâu thuẫn trong va chạm giao thông giữa xe mô tô của Lê Nhựt B và Trần Tuấn K vào ngày 24/8/2023. Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/8/2023, tại đoạn đường gần Công ty T1 trên Quốc A thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, Lê Nhựt B đã cùng Trần Văn H1, Lê Tấn Đ, Nguyễn Nhựt V1, Phan Hồng P, Dương Thanh A đã thống nhất ý chí tìm K đánh, các đối tượng đã dùng hung khí là gậy 03 khúc bằng kim loại đánh trúng vai và lưng của Trần Tuấn K gây thương tích tổn hại sức khoẻ 07%. Khi bị đánh Trần Tuấn K bỏ chạy một đoạn khoảng 05 mét, rồi lấy từ trong túi quần bên phải ra một cây dao xếp bằng kim loại có cán màu vàng, mũi nhọn, cán và lưỡi dài khoảng 20cm quay lại tấn công Lê Nhựt B và Nguyễn Nhựt V1 nên B và V1 bỏ chạy. Lúc này, bị cáo thấy Dương Thanh A đang ngồi trên xe nên bị cáo cầm dao bằng tay phải chạy lại chỗ A. Thấy vậy A dùng tay giật lấy cây dao của K nhưng không được, tiếp đến bị cáo K cầm dao đâm theo chiều hướng đối diện làm trúng nhiều nhát với ý thức đâm đại không có chủ đích, nhưng trúng vào vùng bụng và hạ sườn trái của A, gây thương tích làm tổn thương cơ thể cho A là 35%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Tuấn K thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp đã thoả mãn quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cụ thể điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định: “c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Xét nguyên nhân phạm tội của bị cáo K: xuất phát từ mâu thuẫn từ trước giữa bị cáo với Lê Nhựt B nên bị hại Dương Thanh A và các đối tượng Lê Nhựt B, Lê Tấn Đ, Trần Văn H1, Nguyễn Nhựt V1, Phan Hồng P đã có hành vi chặn xe, dùng tay, chân và gậy 03 khúc bằng kim loại đánh vào người gây thương tích tổn hại cho sức khoẻ cho bị cáo, trong lúc bị đánh bị cáo đã dùng dao cất giấu sẵn trong người chống trả và rượt đuổi B, V1 thì B, V1 bỏ chạy, bị cáo tiếp tục chạy đến vị trí A đang ngồi trên xe đâm đại nhiều nhát vào người bị hại. Vì vậy, qua diễn biến sự việc thấy rằng bị cáo phạm tội có nguyên nhân bất ngờ và có một phần lỗi của nhóm đối tượng cùng đi với bị hại.

[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả xong theo yêu cầu bị hại; quá trình điều tra, xét xử đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hại bãi nại và tại phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ khác quy định khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ đủ điều kiện nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật cho bị cáo.

[7] Xét thấy bị cáo là người đã thành niên, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Căn cứ vào nguyên nhân phạm tội, nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi gây nên cho sức khỏe người khác, tính nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải nghiêm trị, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điền kiện, giám sát, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[8] Xét về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã thoả thuận bồi thường cho bị hại xong, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Thanh N có yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế ngày công lao động bị mất do phải nghĩ làm để chăm sóc bị hại là 11 ngày X 300.000 đồng/ngày = 3.300.000 đồng, bị cáo chấp nhận mức yêu cầu và tự nguyện bồi thường cho ông N là không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 cây gậy 03 khúc bằng kim loại màu trắng, dạng tròn dài 65cm, cán ốp nhựa màu đen đã qua sử dụng của Nguyễn Nhựt V1; 01 bộ áo thun thể thao màu trắng, có hoa văn phía trước, áo cổ tròn, tay ngắn viền màu xanh; 01 quần tây nam màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu trắng, mỏ kết nón màu đen có ghi chữ Nón Sơn của bị hại là những vật có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.

[10] Đối với Dương Thanh A, Lê Nhựt B, Lê Tấn Đ, Trần Văn H1, Nguyễn Nhựt V1, Phan Hồng P gây thương tích tổn hại sức khoẻ cho Trần Tuấn K 07% là có dấu hiệu của tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra Trần Tuấn K không yêu cầu xử lý hình sự đối với các đối tượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp, có căn cứ.

[11] Xét lời bào chữa của luật sư Phạm Văn T: về áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu, phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra là không có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, tại phiên toà bị cáo khai nhận: khi bị cáo bị đánh và chặn đầu xe, bị cáo lấy con dao chuẩn bị sẵn trong người ra thì B, V1 đã bỏ chạy. A chỉ ngồi trên xe không tham gia đánh bị cáo nhưng bị cáo chạy đến chỗ A và đâm gây thương tích cho A, A không phải là đối tượng làm bị cáo kích động nên đề nghị này là không có cơ sở chấp nhận. Đối với hành vi phạm tội của bị cáo là phạm tội rất nghiêm trọng nên luật sư đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu là không có cơ sở chấp nhận.

[12] Đối với yêu cầu của bị cáo: xin được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, bị cáo đã được Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự hạ khung hình phạt cho bị cáo đã thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho sức khoẻ của người khác, nguy hiểm cho xã hội, phạm tội rất nghiêm trọng nên cần thiết phải cách ly bị cáo.

[13] Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[14] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều khoản áp dụng và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Trần Tuấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

  1. Xử phạt: Trần Tuấn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Tuấn K có nghĩa vụ bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Thanh N số tiền 3.300.000 đồng (ba triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày ông Dương Thanh N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Trần Tuấn K chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng bị cáo còn phải trả cho ông Dương Thanh N số tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 cây gậy 03 khúc bằng kim loại màu trắng, dạng tròn dài 65cm, cán ốp nhựa màu đen đã qua sử dụng; 01 bộ áo thun thể thao màu trắng, có hoa văn phía trước, áo cổ tròn, tay ngắn viền màu xanh; 01 quần tây nam màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu trắng, mỏ kết nón màu đen có ghi chữ N.

  1. Về án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Tuấn K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 18/9/2024; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này đối với những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 18/9/2024. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo đối với những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp, bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

*Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Viện KSND huyện Châu Thành A;
  • - Công an huyện Châu Thành A;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger