|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày: 17/9/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà: Trần Thị Thúy.
- Ông: Lê Văn Toàn.
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hà Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hòe - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXHS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Vĩnh C; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 22/6/2000 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Vĩnh M, sinh năm: 1971 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1983; vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 15/02/2024 có hành vi “Cố ý gây thương tích” bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPHC ngày 28/5/2024.
Nhân thân: Ngày 17/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong vào ngày 11/5/2021, đến nay đã được xóa án tích.
Bị cáo Nguyễn Vĩnh C bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 08/6/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa
Người chứng kiến: Ông Trần Văn K1, sinh năm 1992. Trú tại: Xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 08 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Vĩnh C đang ở khu vực chợ thuộc xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An đứng tìm nhờ xe người đi đường để về nhà tại xã T, huyện T. Lúc này, Nguyễn Vĩnh C gặp một người đàn ông trung niên không quen biết đứng gần đó thì Nguyễn Vĩnh C tiến lại gần để nói chuyện. Qua nói chuyện và biết người đàn ông này có ma túy nên Nguyễn Vĩnh C hỏi: Bán cho 500.000 đồng (năm trăm nghìn) ma túy (H phiến) thì người đàn ông này đồng ý. Người đàn ông cầm 500.000 đồng (năm trăm nghìn) và đi đâu đó tầm 15 phút thì quay lại, đưa cho Nguyễn Vĩnh C 01 (một) gói nhỏ bên ngoài là túi ni long màu trắng trong suốt, bên trong có 05 (năm) viên nén hình tròn dạng nén màu hồng và Nguyễn Vĩnh C biết đây là ma túy cần mua nên đã cất gói ma túy này vào túi quần phía trước, bên trái đang mặc trên người rồi đi bộ để xin nhờ xe của người đi đường tìm nơi sử dụng. Khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, khi Nguyễn Vĩnh C đang đi bộ đến khu vực liên thôn gần cầu treo thuộc xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An để tìm nơi sử dụng thì tổ công tác Công an xã N đến và yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc trên người của Nguyễn Vĩnh C có 01 (một) gói nhỏ bên ngoài là túi ni long màu trắng trong suốt, bên trong có 05 (năm) viên hình tròn dạng nén màu hồng trên bề mặt viên nén có ký hiệu “WY”. Nguyễn Vĩnh C khai nhận đây là số ma tuý mà Nguyễn Vĩnh C mua về để sử dụng nhưng chưa kịp dùng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Vĩnh C và niêm phong gói chứa chất ma tuý có đặc điểm nêu trên rồi đưa Nguyễn Vĩnh C cùng số tang vật liên quan về bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Nghệ An để điều tra làm rõ theo thẩm quyền.
Ngày 08/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T thành lập hội đồng mở niêm phong cân xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại.
Sau khi loại bỏ bao bì, viên nén hình tròn, màu hồng thu giữ của Nguyễn Vĩnh C có khối lượng là 0,55g (không phẩy năm mươi lăm gam).
Tại bản kết luận giám định số 64611/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 14/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu viên dạng nén màu hồng, trên bề mặt viên nén có chữ WY thu giữ của Nguyễn Vĩnh C gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; Số viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt viên nén có chữ WY thu giữ của Nguyễn Vĩnh C có khối lượng là 0,55g (không phẩy năm mươi lăm gam)”.
Tại bản cáo trạng số: 66/CT-VKS-TK ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ đã truy tố bị cáo Nguyễn Vĩnh C, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Vĩnh C thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt Nguyễn Vĩnh C mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/6/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 0,32g (không phẩy ba mươi hai gam) ma túy (Methamphetamine) còn lại sau khi đã lấy mẫu gửi đi giám định.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Vĩnh C phải chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo bị truy tố và xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội. Bị cáo thật sự rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Vĩnh C đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, được lập vào ngày 8/6/2024, phù hợp với vật chứng, lời khai của người chứng kiến, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 50 phút ngày 08 tháng 6 năm 2024, tại khu vực liên thôn gần cầu treo thuộc xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An Tổ công tác Công an xã N, huyện T đang tuần tra trên đường kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Vĩnh C đang tàng trữ 0,55g (không phẩy năm mươi lăm gam) ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi của bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý đối với các loại chất ma túy. Tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian gần đây có xu hướng gia tăng, không những gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an trong xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân mà còn trực tiếp làm suy kiệt giống nòi, gây ra hiểm họa HIV-AIDS và là tác nhân của nhiều loại tệ nạn, tội phạm khác. Nguyễn Vĩnh C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Bị cáo là người có nhân thân xấu năm 2019 đã bị Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đang còn tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích”, vì vậy cần phải lên cho bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm mà bị cáo đã thực hiện. Khi xem xét lượng hình cần giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt vì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,... tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, qua kết quả xác minh tại địa phương, xét thấy bị cáo không tài sản riêng, thu nhập từ làm ruộng, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông đã bán mua ma túy cho Nguyễn Vĩnh C quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ cụ thể, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[7] Về vật chứng vụ án: 0,32g (không phẩy ba mươi hai gam) ma túy (Methamphetamine) còn lại sau khi đã lấy mẫu đi giám định thu giữ của Nguyễn Vĩnh C là chất Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ, sử dụng nên áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS để tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Vĩnh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh C 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08 tháng 6 năm 2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tiêu hủy 0,32g (không phẩy ba mươi hai gam) ma túy (Methamphetamine) và vỏ bao bì niêm phong trong phong bì thư.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Kỳ.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Nguyễn Vĩnh C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận:
|
T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa |
|
|
Trần Thị Thúy |
Trần Kiên Cường |
Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 17/9/2024
