Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số:66/2024/HS-ST

Ngày 03-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Đăng Tuấn
  2. Ông Nguyễn Ngọc Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Cao Đức V, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1983; tại huyện H, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Cao Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị L, sinh năm 1960; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là chị Lê Thị T, sinh năm 1988; có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Nhân thân: Ngày 06-5-2024 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09-01-2024 đến ngày 15-01-2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh T (theo quyết định tạm giam số 30/HSST-QĐTG, ngày 06-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).

* Nguyên đơn dân sự:

  1. Công ty B; Địa chỉ trụ sở: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  2. - Người đại diện theo pháp luật: Bà Đào Thanh H1, sinh năm 1972; Chức vụ giám đốc; Nơi cư trú: Số B Chung cư H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (có mặt).

  3. Công ty TNHH S; Địa chỉ trụ sở: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  4. - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Q, Chức vụ giám đốc; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (xin vắng mặt).

* Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Q2; Địa chỉ trụ sở: Số A, đường T, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Đức D, sinh năm 1993; Chức vụ: Tổng giám đốc; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Văn T1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu T, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương (xin vắng mặt).

* Bị hại:

  1. Ông Dương Xuân T2, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn Q, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  2. Anh Đinh Quang Q1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  3. Chị Lê Thị T, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  2. Anh Đào Đức H2, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

* Những người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội.
  2. Anh Đỗ Đức D, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  3. Anh Phạm Văn K; sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  4. Chị Phạm Thị N, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu A, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  5. Anh Đào Ngọc H3, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  6. Anh Trần Thanh T3, sinh năm 1987; Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  7. Ông Vũ Văn T4, sinh năm 1959; Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  8. Anh Đinh Quang T5, sinh năm 1975
  9. Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1999

Đều cư trú tại: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 16-10-2022, tại nhà xưởng do Công ty TNHH Q2 thuê của Công ty TNHH S (viết tắt là Công ty S), địa chỉ: thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; Phạm Văn K là Phó Giám đốc Công ty TNHH Q2 phân công Cao Đức V (có cấp chứng chỉ sơ cấp nghề hàn công nghệ cao do Công ty Cổ phần H6 cấp ngày 28/02/2022) cùng Đinh Quang Q1 đều là công nhân cơ điện của Công ty TNHH Q2; Nguyễn Văn P, Đỗ Đức D đều là công nhân cơ điện của Công ty cổ phần U tiến hành lắp đặt máy sấy lu tại khu vực nhà xưởng, cạnh kho để vật liệu, của Công ty TNHH một thành viên B (viết tắt là Công ty B1), địa chỉ: thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, nằm trong khuôn viên Công ty S (thuê của công ty S). Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, P và Duy lắp hệ thống dẫn nước cho máy ở phía dưới, không sử dụng máy hàn, còn V và Q1 tiến hành hàn cố định khung máy ở phía trên. Q1 giữ thanh sắt để V sử dụng máy hàn điện màu vàng của Công ty TNHH Q2 tiến hành hàn xì cố định khung máy. Trước khi hàn, V cùng 3 công nhân còn lại đổ nước làm ướt nền xưởng, chuẩn bị khăn ướt và hai bình cứu hỏa, nhưng không tiến hành biện pháp nào để cách ly, ngăn các vẩy hàn có nhiệt độ cao sinh ra trong quá trình hàn bắn ra xung quanh, nên các vẩy hàn đã bắn qua khe tường và tôn chắn sang bên kho của Công ty B1. Khi V hàn được khoảng 3 phút thì Q1 phát hiện cháy tại kho để hàng hóa của Công ty B1, vị trí xuất phát cháy ở bên cạnh khu vực hàn xì nên đã hô hào các công nhân khác tiến hành chữa cháy. Do kho để hàng hóa của Công ty B1 khóa cửa nên các công nhân đã phá cửa kho, vào và sử dụng bình cứu hỏa để chữa cháy. Tuy nhiên, không dập tắt được lửa, đám cháy nhanh chóng lan rộng ra toàn bộ kho, cháy sang xưởng sấy lu, phòng thí nghiệm, kho hóa chất nhuộm, xưởng tẩy, xưởng mắc, kho để khăn, văn phòng và xưởng dệt của Công ty TNHH Q2. Sau đó, các lực lượng Công an huyện H, Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH Công an tỉnh T đã tiến hành dập tắt đám cháy. Diện tích cháy được xác định khoảng 1.500m², tổng diện tích bị tác động, ảnh hưởng do cháy khoảng 4.200m². Tài sản bị thiệt hại gồm: toàn bộ kho và hàng hóa trong kho của Công ty B1; hư hỏng mái che bằng tôn chống nóng của xưởng tẩy, xưởng mắc, kho khăn, xưởng dệt; hư hỏng các máy móc, thiết bị điện, nguyên liệu sợi, khăn của Công ty TNHH Q2; Nhà xưởng thuê của Công ty S; xe mô tô của ông Dương Xuân T2; xe mô tô của anh Đinh Quang Q1; điện thoại của chị Lê Thị T; máy hàn của anh Đào Đức H2 và anh Nguyễn Văn Đ.

Bản kết luận giám định số 267/KL-KTHS(CN) ngày 25/11/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Vùng cháy đầu tiên nằm tại K để vật liệu của công ty B thuộc khu xưởng của Công ty TNHH S. Điểm xuất phát cháy nằm tại khu vực cách góc kho phía Đông Bắc 2,4 m và sát tường phía Đông bên trong kho để vật liệu của công ty B thuộc khu xưởng của Công ty TNHH S. Nguyên nhân cháy: Do sơ suất bất cẩn trong quá trình hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện, tạo ra các vẩy hàn có nhiệt độ cao rơi vào các vật liệu dễ bắt lửa gây cháy, sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn đến vụ cháy nói trên.

Bản kết luận giám định số:154/KL-KTHS (ĐT) ngày 15/11/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của 01 tập tin video lưu trữ trong USB gửi giám định.

Bản kết luận giám định số 7290/KL-KTHS ngày 15/11/2022 của V1 - Bộ C, kết luận: Mẫu các hạt kim loại thu tại nền nhà kho để hàng hóa của Công ty TNHH một thành viên B (ký hiệu A1) và mẫu chất rắn dạng đầu mối hàn thu tại phía trên cột trụ đỡ trục máy sấy lu tại kho xưởng của Công ty TNHH Q2 (ký hiệu A2) gửi giám định lẫn nhiều tạp chất nên không đủ yếu tố để giám định so sánh.

Bản kết luận định giá tài sản số 36 ngày 16/01/2024 và số 15 ngày 28/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại trong vụ cháy xảy ra ngày 16/10/2022 tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 30.090.181.622 đồng, trong đó Công Ty Q2 bị thiệt hại 27.213.082.466 đồng; nhà xưởng của Công Ty Q2 thuê của Công ty S bị thiệt hại là 768.794.257 đồng; Công ty B bị thiệt hại 1.510.269.790 đồng; Nhà xưởng của Công ty B thuê của Công ty S bị thiệt hại là 586.535.109 đồng; Ông Dương Xuân T2 bị thiệt hại 01 chiếc xe mô tô Boss nữ, Biển kiểm soát 17 F9-9540 trị giá 2.500.000 đồng; Anh Đinh Quang Q1 bị thiệt hại 01 chiếc xe mô tô Wave, Biển kiểm soát 17 B7-28725, trị giá 1.500.000 đồng; Chị Lê Thị T bị thiệt hại 01 chiếc điện thoại Sam sung A72 trị giá 5.500.000 đồng; Anh Đào Đức H4 và anh Nguyễn Văn Đ mỗi người mang 01 máy hàn ra Công ty TNHH Q2 để phục vụ cho việc lắp máy bị thiệt hại mỗi chiếc máy hàn trị giá 1.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 65/CT-VKSHH ngày 31-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Cao Đức V về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Cao Đức V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Bà Đào Thanh H1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty B trình bày: Công ty B bị thiệt hại về hàng hóa trị giá là 1.510.269.790 đồng, Công ty B tự thỏa thuận giải quyết với Công ty Q2, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu không tự giải quyết được thì Công ty B sẽ khởi kiện yêu cầu bồi thường bằng vụ án dân sự khác. Về phần nhà xưởng mà Công ty B thuê của Công ty S bị thiệt hại, Công ty Q2 đã xây hoàn trả cho Công ty B nên Công ty B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo V.

Người bị hại chị Lê Thị T trình bày: Chị bị thiệt hại 01 chiếc điện thoại Sam sung A72 nhưng chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cao Đức V phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”; Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 313; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Đức V từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HSST, ngày 06-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Cao Đức V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa Công ty TNHH Q2 và bị cáo Cao Đức V về việc bị cáo V đã bồi thường cho Công ty TNHH Q2 số tiền 50.000.000 đồng, Công ty TNHH Q2 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường khoản tiền nào khác, đồng thời Công ty TNHH Q2 nhận trách nhiệm bồi thường cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong vụ cháy trên. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Dương Xuân T2, bị cáo Cao Đức V và Công ty TNHH Q2 về việc ông Dương Xuân T2 đã nhận bồi thường trị giá chiếc xe mô tô số tiền 6.000.000 đồng, ông T2 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường khoản tiền nào khác. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa anh Đinh Quang Q1, bị cáo Cao Đức V và Công ty TNHH Q2 về việc anh Đinh Quang Q1 đã nhận bồi thường trị giá chiếc xe mô tô số tiền 2.000.000 đồng, anh Q1 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường khoản tiền nào khác. Anh Đào Đức H4, chị Lê Thị T, anh Nguyễn Văn Đ và Công ty B không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm bồi thường nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 máy hàn sơn màu vàng bị hư hỏng; 01 phong bì mẫu vật hoàn trả được dán kín, niêm phong bằng hình dấu tròn đỏ của V1 - Bộ C; 01 phong bí dán kín, niêm phong mặt trước phong bì ghi “Hai que hàn màu xám còn lại sau khi cho anh Cao Đức V, SN 1983, trú tại: thôn T, M, H, Thái Bình sử dụng để thực hành lời khai”; 01 phong bí dán kín, niêm phong mặt trước phong bì ghi “Hai que hàn màu nâu còn lại sau khi cho anh Cao Đức V, SN 1983, trú tại: thôn T, M, H, Thái Bình sử dụng để thực hành lời khai”; 01 ống nhựa hình trụ đậy kín, được niêm phong bằng các dải niêm phong, bên ngoài ống có dán giấy ghi dòng chữ: “Các que hàn thu ở hiện trường còn lại sau khi cho anh Cao Đức V thực hành lời khai”. Về án phí bị cáo Cao Đức V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

  1. [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Những người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. [3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Cao Đức V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Báo cáo ngày 16-10-2022 của Công an xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường do Công an huyện H lập ngày 24-8-2022; Bản ảnh hiện trường lập ngày 18-10-2022; Bản kết luận giám định số 267/KL-KTHS(CN) ngày 25-11-2022 của Phòng K1 Công an tỉnh T; Bản kết luận định giá tài sản số 36 ngày 16-01-2024 và số 15 ngày 28-03-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H; Bản kết luận giám định số 154/KL-KTHS (ĐT) ngày 15-11-2022 của Phòng K1 Công an tỉnh T; Bản kết luận giám định số 7290/KL-KTHS ngày 15-11-2022 của V1 - Bộ C; Biên bản ghi lời khai của đại diện theo pháp luật của nguyên đơn dân sự; bị đơn dân; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người bị hại ông Trần Văn Q, anh Đinh Quang Q1; anh Nguyễn Văn Đ; anh Đào Văn T1; chị Đào Thanh H1; ông Dương Xuân T2; chị Lê Thị T; ông Đào Đức H4, ông Đỗ Đức D; Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Văn P; anh Đỗ Đức D; anh Phạm Văn K; chị Phạm Thị N; anh Đào Ngọc Hiếu; anh Trần Thanh T3; ông Vũ Văn T4; anh Đinh Quang T5 và anh Nguyễn Văn N1 cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 16/10/2022, tại khu vực nhà xưởng sấy lu của Công ty TNHH Q2, ở thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; bị cáo Cao Đức V là công nhân cơ điện của Công ty TNHH Q2 trong quá trình hàn cắt kim loại để hàn khung cố định hệ thống máy sấy lu, do bất cẩn sơ suất trong quá trình hàn cắt kim loại, không đảm bảo an toàn về phòng cháy chữa cháy nên để các vẩy hàn có nhiệt độ cao bắn qua khe tường rơi xuống kho để vật liệu, hàng hóa thành phẩm “Giấy thấm dầu”, các hộp bìa cát tông và nguyên liệu sản xuất giấy thấm dầu của Công ty TNHH một thành viên B cạnh đó dẫn đến cháy toàn bộ kho để nguyên vật liệu, hàng hóa nêu trên gây thiệt hại về tài sản; xe mô tô của ông Dương Xuân T2; xe mô tô của anh Đinh Quang Q1; điện thoại của chị Lê Thị T; máy hàn của anh Đào Đức H4 và anh Nguyễn Văn Đ. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại trong vụ cháy tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 30.090.181.622 đồng.

Hành vi của bị cáo Cao Đức V vi phạm mục 2.1.4 QCVN 3: 2011/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện; điểm c khoản 3b Điều 5 Luật phòng cháy và chữa cháy năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2013.

Mục 2.1.4 QCVN 3: 2011/BLĐTBXH: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện.

“.. Khi tiến hành công việc hàn điện tại những nơi có nguy cơ cháy, nổ phải tuân theo các quy định an toàn phòng chống cháy, nổ”...;

Điểm c khoản 3b Điều 5 Luật phòng cháy và chữa cháy năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2013

“...Bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quá trình sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt và trong bảo quản, sử dụng chất cháy....”.

Đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự.

Điều 313. Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

“1. Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên;

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo Cao Đức V về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. [4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, tài sản của cá nhân, cơ quan tổ chức.
  2. [5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu. Hành vi mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội rất nghiêm trọng. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo cùng gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo nên bị cáo được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

  1. [6] Đối với ông Phạm Văn K, Đinh Quang Q1, Nguyễn Văn P, Đỗ Đức D: ông K phân công 04 công nhân Cao Đức V, Q1, P, D tham gia tháo lắp máy sấy lu (trong đó V, Q1 là công nhân của tổ cơ điện của Công ty TNHH Q2) tham gia tháo lắp máy sấy lu. Ông K trực tiếp tham gia cùng với các công nhân trên, đến ngày 15/10/2022, ông K có việc về tỉnh Hải Dương, trước khi đi, ông K giao 04 công nhân Việt, Q1, P, D làm nốt phần còn lại và dặn các công nhân cẩn thận không để xảy ra cháy nổ. Tuy nhiên, ngày 16/10/2022, 04 công nhân tiếp tục lắp máy sấy lu, ai biết làm gì thì làm việc đó, đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Cao Đức V sử dụng máy hàn điện để hàn khung cố định hệ thống máy sấy lu, trong quá trình hàn cắt kim loại để hàn khung cố định hệ thống máy sấy lu, do bất cẩn sơ suất, không đảm bảo an toàn về phòng cháy chữa cháy gây ra cháy trên làm thiệt hại về tài sản trị giá 30.090.181.622 đồng cho Công ty TNHH một thành viên B và Công ty TNHH Q2. Do đó không có căn cứ xử lý đối với ông Phạm Văn K về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự và không có căn cứ xử lý anh Đinh Quang Q1, anh Nguyễn Văn P, anh Đỗ Đức D đồng phạm với Cao Đức V về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” quy định tại khoản 3 Điều 313 Bộ luật Hình sự.

Quá trình xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xác định: tại thời điểm xảy ra cháy, toàn bộ nhà xưởng do Công ty TNHH Q2 thuê lại của Công ty TNHH S đang hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, các công trình, hạng mục xảy ra cháy do Công ty TNHH Q2 thuê lại nêu trên chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy, chưa có giấy chứng nhận hoặc văn bản thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy theo quy định, có dấu hiệu vi phạm quy định tại khoản 4, 5 Điều 38 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Ngày 02/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã có văn bản đề nghị Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH Công an tỉnh T lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính nêu trên theo thẩm quyền. Ngày 07/12/2023, UBND tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH Q2, mức phạt 90.000.000 đồng, biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc Công ty TNHH Q2 hoàn thiện hồ sơ thiết kế trình Công an tỉnh T để thẩm duyệt thiết kế, nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 38 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP là phù hợp với quy định của pháp luật.

  1. [7] Về trách nhiệm bồi thường: Bị cáo Cao Đức V đã bồi thường cho Công ty TNHH Q2 số tiền 50.000.000 đồng, Công ty TNHH Q2 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường khoản tiền nào khác, đồng thời Công ty TNHH Q2 nhận trách nhiệm bồi thường cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong vụ cháy trên, xét thấy đây là sự thỏa thuận của các đương sự phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận sự thỏa thuận này.

Công ty B bị thiệt hại về tài sản, hàng hóa trị giá là 1.510.269.790 đồng, Công ty B tự thỏa thuận giải quyết với Công ty Q2, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết. Về kho để hàng hóa Công ty B thuê của Công ty S, đã được Công ty Q2 xây dựng lại, Công ty B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Công ty S tự thỏa thuận, thống nhất về trách nhiệm bồi thường dân sự với Công ty TNHH Q2 về thiệt hài tài sản của Công ty S, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Ông Dương Xuân T2 bị thiệt hại 01 chiếc xe mô tô đã được Công ty Q2 và bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000 đồng, ông T2 không có yêu cầu gì khác nên HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận này.

Anh Đinh Quang Q1 bị thiệt hại 01 chiếc xe mô tô đã được Công ty TNHH Q2 và bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, anh Q1 không có yêu cầu gì khác nên HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận này.

Anh Đào Đức H4, anh Nguyễn Văn Đ, chị Lê Thị T không yêu Tòa án giải quyết về yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.

  1. [8] Về vật chứng của vụ án: 01 máy hàn sơn màu vàng bị hư hỏng; 01 phong bì mẫu vật hoàn trả được dán kín, niêm phong bằng hình dấu tròn đỏ của V1 - Bộ C, 02 chữ ký, 02 dòng chữ viết: Nguyễn Tuấn A, Trần Thị Thu H5; 01 phong bí dán kín, niêm phong bằng 05 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, 04 chữ ký, 01 hình dấu chức danh Điều tra viên Thượng úy Nguyễn Đức P1, 03 dòng chữ viết: Nguyễn Trung Đ1, Nguyễn Thị Thu G, Cao Đức V. Mặt trước phong bì ghi “Hai que hàn màu xám còn lại sau khi cho anh Cao Đức V, SN 1983, trú tại: thôn T, M, H, Thái Bình sử dụng để thực hành lời khai”; 01 phong bí dán kín, niêm phong bằng 05 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, 04 chữ ký, 01 hình dấu chức danh Điều tra viên Thượng úy Nguyễn Đức P1, 03 dòng chữ viết: Nguyễn Trung Đ1, Nguyễn Thị Thu G, Cao Đức V. Mặt trước phong bì ghi “Hai que hàn màu nâu còn lại sau khi cho anh Cao Đức V, SN 1983, trú tại: thôn T, M, H, Thái Bình sử dụng để thực hành lời khai”; 01 ống nhựa hình trụ đậy kín, được niêm phong bằng các dải niêm phong, trên mỗi dải niêm phong có 01 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, 04 chữ ký, 01 hình dấu chức danh Điều tra viên Thượng úy Nguyễn Đức P1, 03 dòng chữ viết: Nguyễn Trung Đ1, Nguyễn Thị Thu G, Cao Đức V. Bên ngoài ống có dán giấy ghi dòng chữ: “Các que hàn thu ở hiện trường còn lại sau khi cho anh Cao Đức V thực hành lời khai”. Đây là những đồ vật còn lại sau khi bị cháy đã bị hư hỏng nặng, không còn giá trị, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
  2. [9] Về án phí: Bị cáo Cao Đức V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Cao Đức V phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 313; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Đức V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HSST, ngày 06-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo Cao Đức V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 09-01-2024.
  3. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa Công ty TNHH Q2 và bị cáo Cao Đức V về việc bị cáo V đã bồi thường cho Công ty TNHH Q2 số tiền 50.000.000 đồng, Công ty TNHH Q2 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường khoản tiền nào khác, đồng thời Công ty TNHH Q2 nhận trách nhiệm bồi thường cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong vụ cháy trên.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Dương Xuân T2, bị cáo Cao Đức V và Công ty TNHH Q2 về việc ông Dương Xuân T2 đã nhận bồi thường trị giá chiếc xe mô tô số tiền 6.000.000 đồng, ông T2 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường khoản tiền nào khác.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa anh Đinh Quang Q1, bị cáo Cao Đức V và Công ty TNHH Q2 về việc anh Đinh Quang Q1 đã nhận bồi thường trị giá chiếc xe mô tô số tiền 2.000.000 đồng, anh Q1 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường khoản tiền nào khác.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 máy hàn sơn màu vàng bị hư hỏng; 01 phong bì mẫu vật hoàn trả được dán kín, niêm phong bằng hình dấu tròn đỏ của V1 - Bộ C, 02 chữ ký, 02 dòng chữ viết: Nguyễn Tuấn A, Trần Thị Thu H5; 01 phong bí dán kín, niêm phong bằng 05 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, 04 chữ ký, 01 hình dấu chức danh Điều tra viên Thượng úy Nguyễn Đức P1, 03 dòng chữ viết: Nguyễn Trung Đ1, Nguyễn Thị Thu G, Cao Đức V. Mặt trước phong bì ghi “Hai que hàn màu xám còn lại sau khi cho anh Cao Đức V, SN 1983, trú tại: thôn T, M, H, Thái Bình sử dụng để thực hành lời khai”; 01 phong bí dán kín, niêm phong bằng 05 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, 04 chữ ký, 01 hình dấu chức danh Điều tra viên Thượng úy Nguyễn Đức P1, 03 dòng chữ viết: Nguyễn Trung Đ1, Nguyễn Thị Thu G, Cao Đức V. Mặt trước phong bì ghi “Hai que hàn màu nâu còn lại sau khi cho anh Cao Đức V, SN 1983, trú tại: thôn T, M, H, Thái Bình sử dụng để thực hành lời khai”; 01 ống nhựa hình trụ đậy kín, được niêm phong bằng các dải niêm phong, trên mỗi dải niêm phong có 01 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, 04 chữ ký, 01 hình dấu chức danh Điều tra viên Thượng úy Nguyễn Đức P1, 03 dòng chữ viết: Nguyễn Trung Đ1, Nguyễn Thị Thu G, Cao Đức V. Bên ngoài ống có dán giấy ghi dòng chữ: “Các que hàn thu ở hiện trường còn lại sau khi cho anh Cao Đức V thực hành lời khai”.

Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31-5-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Cao Đức V phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Cao Đức V, chị Lê Thị T và bà Đào Thanh H1 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Dương Xuân T2, ông Đỗ Đức D, anh Đinh Quang Q1, anh Đào Đức Hoàn, anh Nguyễn Văn Đ, anh Đào Văn T1 và ông Trần Văn Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Cao Đức V phạm tội vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger