|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-8-2024 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Vũ Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Chinh
Ông Dương Tuấn Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thành, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Bảng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số A T, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 96/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024 /QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987; nơi cư trú: T, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ hiện nay: B N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Chị Ho Hang T, sinh năm 1980; địa chỉ: A Mahal Drive Clyde North V, Úc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác thì anh Nguyễn Văn Đ trình bày như sau:
Anh Nguyễn Văn Đ và chị H Hang Thi tự nguyện tìm hiểu nhau, sau một thời gian cả hai quyết định kết hôn, được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 13/3/2019. Sau khi kết hôn chị Ho Hang T về lại Úc, còn anh Đ vẫn ở Việt Nam. Thời gian ban đầu, anh chị vẫn liên lạc với nhau, nhưng sau đó vì cách trở địa lý nên anh và chị H Hang Thi không thể chung sống với nhau, lâu dần cũng hết tình cảm với nhau. Nay nhận thấy tình cảm không còn, vợ chồng không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H Hang Thi theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn Đ khai anh và chị H Hang Thi không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn Đ khai anh và chị H Hang Thi không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Ho Hang T trình bày: Vào năm 2016, chị quen biết với anh Nguyễn Văn Đ. Sau một thời gian quen nhau, cùng tìm hiểu thì anh chị đi đến kết hôn vào ngày 13/3/2019. Sau khi kết hôn xong chúng tôi sống chung với nhau được 10 ngày thì chị phải trở lại Ú và một năm sau chị trở lại Việt Nam được 30 ngày để thăm anh Nguyễn Văn Đ. Đến năm 2022 chị và anh Đ đã hết tình cảm nên cả hai không gặp nhau nữa. Trong thời gian chung sống với anh Nguyễn Văn Đ, anh chị thường xuyên ở xa và dần dần hết tình cảm với nhau. Vậy nên, chị Ho Hang T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ. Về con chung: Chị Ho Hang T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ho Hang T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 27/8/2024, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về kiểm sát tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có ý kiến như sau: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, không có vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Ho Hang T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và qua thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Anh Nguyễn Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã thể hiện được ý chí của anh Đ về việc giải quyết vụ án. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Đ theo khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị H Hang Thi kết hôn hợp pháp, được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 13/3/2019. Sau khi kết hôn, chị Ho Hang T sang lại Úc sinh sống và làm việc, còn anh Đ vẫn ở Việt Nam. Thời gian ban đầu, anh chị vẫn liên lạc với nhau, nhưng đến năm 2022 thì cả hai dần dần không còn tình cảm, vợ chồng không còn yêu thương nhau. Xét thấy, hiện nay anh Nguyễn Văn Đ và chị Ho Hang T khả năng vợ chồng hàn gắn tình cảm và đoàn tụ là rất khó, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Ho Hang T cũng đồng ý ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị H Hang Thi là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về con chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị H Hang Thi đều khai không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị H Hang Thi đều khai không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84, khoản 1 Điều 122, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Ho Hang T.
- Về con chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Ho Hang T đều xác nhận không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn Đ và chị H Hang Thi đều xác định không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số: 0000014 ngày 12/10/2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế).
Anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Ho Hang T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Vũ Tiến |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về xin ly hôn
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn có yếu tố nước ngoài
