|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/6/2024 V/v: Ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Viện
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lang Thị H – sinh năm 1991 ( Vắng mặt)
HKTT và nơi ở hiện nay: Số nhà D, thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Lê Viết T, sinh năm 1995( Vắng mặt)
ĐKTT: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Nhật Bản
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 02 năm 2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lang Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Viết T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/12/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì anh Lê Viết T đi hoạc và làm việc tại Nhật Bản từ đó vợ chồng sống xa nhau, từ tháng 5 năm 2023 đến nay anh T không liên lạc và quan tâm đến chị, chị gọi điện thì anh T cáu gắt, tình cảm vợ chồng rạn nứt, không có tiếng nói chung. Mặc dù đã được gia đình dàn xếp nhưng không có kết quả. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con: Chị Lang Thị H và anh Lê Viết T không có con chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết. .
Về tài sản, công nợ chung: Chị Lang Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lang Thị H trình bày chị không biết địa chỉ nơi ở và nơi làm việc cụ thể của anh Lê Viết T ở Nhật Bản nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh Lê Viết T vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Trịnh Thị T1, địa chỉ thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của anh Lê Viết T từ bà Trịnh Thị T1, địa chỉ thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Tại các biên bản lấy lời khai, bà Trịnh Thị T1 trình bày:
Bà là mẹ đẻ của anh Lê Viết T. Chị Lang Thị H là vợ của anh Lê Viết T và là con dâu của bà. Năm 2018, chị Lang Thị H và anh Lê Viết T kết hôn với nhau. Sau khi kết hôn vợ chồng anh T chị H hạnh phúc được một thời gian thì anh T đi làm ăn tại Nhật Bản. sau khi anh T đi Nhật Bản thì chị H cũng không ở nhà cùng vợ chồng bà. Bà không biết địa chỉ cụ thể của anh T ở Nhật Bản nên không thể cung cấp cho Tòa án nhưng bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh T nên bà đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh T. Chị Lang Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Lê Viết T, bà cũng biết sự việc vì chị H và anh T gọi điện thoại về có trao đổi với bà, quan điểm của bà là thống nhất và đồng ý. Vợ chồng anh T và chị H không có con chung. Chị H và anh T không có tài sản và công nợ chung.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân Gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lang Thị Hoài x cho chị H được ly hôn anh T.
Về án phí: Chị Lang Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhận định:
[ 1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Bị đơn là anh Lê Viết T đăng ký hộ khẩu tại xã Đ huyện Y, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống tại Nhật Bản. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Chị Lang Thị H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Lê Viết T Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh Lê Viết T tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà Trịnh Thị T1 là mẹ đẻ của anh T trình bày không biết địa chỉ của anh Lê Viết T ở Nhật Bản. Tuy anh Lê Viết T thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh T hiện nay ở nước ngoài. Bà Trịnh Thị T1 vẫn thường xuyên liên lạc với anh T nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh Lê Viết T. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lang Thị H có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Lê Viết T mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Căn cứ các BL: 05, 06, 15, 19, 25, 26. Chị Lang Thị H và anh Lê Viết T kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Y là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị Lang Thị H đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn từ năm 2023, không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không liên hệ với nhau, chị Lang Thị H không có địa chỉ cụ thể của anh Lê Viết T nên không cung cấp địa chỉ của anh T tại Nhật Bản cho Tòa án được. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Lang Thị H và anh Lê Viết T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lang Thị H cho chị được ly hôn anh Lê Viết T.
[2.2]. Về con: Căn cứ các BL: 06, 15, 25, 26. Chị Lang Thị H và anh Lê Viết T không có con chung,
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Căn cứ các BL: 06, 25, 25, 26. Chị Lang Thị H và anh Lê Viết T không có tài sản chung và công nợ chung. Chị H không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Lang Thị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Lang Thị H đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lang Thị Hoài
Về hôn nhân: Xử cho chị Lang Thị H được ly hôn anh Lê Viết T.
Về con: Chị Lang Thị H và anh Lê Viết T không có con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Lang Thị Hoài không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Chị Lang Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0000230 ngày 27/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ.
3. Quyền kháng cáo:
Chị Lang Thị H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Lê Viết T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nguyệt |
Bản án số 66 /2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 66 /2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lang Thị H - Lê Viết T "Ly hôn"
