TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 10/12/2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Mây
Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Vĩnh và ông Nguyễn Văn Hợi
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Ông Nguyễn Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 197/2020/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QÐST - HNGĐ, ngày 25/11/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị G, sinh năm 1995 – Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Hoàng Văn H, sinh năm 1997 – Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm C, xã T, H. P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, lời khai tại Tòa án nguyên đơn là chị Lê Thị G trình bày: Chị với anh Hoàng Văn H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 12/3/2019. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì hai bên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng trong sinh hoạt hàng ngày không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, hay cãi nhau khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không hạnh phúc. Anh chị sống ly thân từ 23/8/2023 không ai quan tâm đến ai. Đến nay chị G nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn và xin ly hôn với anh Hoàng Văn H để chị ổn định cuộc sống.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Tuấn T, sinh ngày 18/9/2019 và cháu Hoàng Chí T1, sinh ngày 19/8/2021. Anh chị thoả thuận với nhau là cháu T ở với mẹ còn cháu T1 ở với bố từ khi sống ly thân và hiện nay chị đang nuôi cháu T còn cháu T1 ở với bố.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về công nợ chung và các khoản cho vay: Không có
Về án phí: Chị G tự nguyện nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Đối với bị đơn là anh Hoàng Văn H:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh H như thông báo về việc thụ lý vụ án để anh H đến Tòa án viết bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do.
Tại biên bản xác minh tại Công an xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ngày 16/10/2024 được biết anh Hoàng Văn H, sinh năm 1997 có đăng ký cư trú tại: Xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Chủ hộ là ông Hoàng Văn N, sinh năm 1976 là bố đẻ của anh H, anh H có mẹ là bà Đặng Thị M, sinh năm 1976 có đăng ký cư trú tại tại: Xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Ông N1 và bà M thường xuyên có mặt ở địa phương. Anh H có đi làm ăn xa, gia đình có công có việc, ngày tết ngày giỗ anh H vẫn về nhà. Vợ anh H là chị Lê Thị G hiện không có hộ khẩu tại địa phương và hiện nay cũng không sinh sống tại xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Về tình trạng hôn nhân và tài sản của chị G và anh H ở địa phương chúng tôi không nắm được.
Tòa án đã lấy lời khai đối với ông Hoàng Văn N là bố đẻ của anh H, đồng thời tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H theo quy định.
Tại biên bản lấy lời khai ông N cung cấp thông tin như sau: chị Lê Thị G và anh Hoàng Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu nhau, được cả hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn năm 2019, chị G và anh H cùng chung sống với nhau tại nhà ông ở xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Hai vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Tuấn T, sinh ngày 18/9/2019 và cháu Hoàng Chí T1, sinh ngày 19/8/2021 hiện cháu T ở với mẹ còn cháu T1 ở với bố. Tài sản chung, nợ chung hai vợ chồng không có gì vì hai vợ chồng ở chung với ông. Hiện anh H đang đi làm xa trong tỉnh Lâm Đồng, ông không rõ địa chỉ. Tết và ngày giỗ trong gia đình anh H vẫn về nhà bố con vẫn liên hệ với nhau qua điện thoại. Hai vợ chồng mâu thuẫn một thời gian dài, giờ đang sống ly thân. Nay Tòa án có giấy tờ gì cứ gửi cho ông, ông có trách nhiệm thông báo cho anh H qua điện thoại. Ông N vẫn thường xuyên liên lạc với anh H và đã nhận, cam kết sẽ giao, thông báo các văn bản tố tụng của Toà án cho anh H.
Sau khi Tòa án giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho ông N, anh H đã gửi đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh.
Do anh H có đơn xin xét xử vắng mặt vì điều kiện đi làm ăn xa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa, chị G giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh H và giải quyết nuôi con.
Trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H trình bày chị Lê Thị G có đơn ly hôn thì anh nhất trí ly hôn; về con chung anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Tuấn T, sinh ngày 18/9/2019 và cháu Hoàng Chí T1, sinh ngày 19/8/2021 hiện cháu T ở với mẹ còn cháu T1 ở với anh; về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay anh xác định đều không có.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và hội đồng xét xử: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 BLTTDS; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị G, cho chị G được ly hôn anh Hoàng Văn H.
Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Lê Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Hoàng Tuấn T, sinh ngày 18/9/2019; Anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Hoàng Chí T1, sinh ngày 19/8/2021 cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị G, anh H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về quyền thăm nom con: Chị G, anh H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không được ai ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị G, anh H có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, nợ chung, khoản cho vay: Không có.
Về án phí: Chị G chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của các đương sự, của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án ly hôn mà bị đơn cư trú tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- - Về sự có mặt của đương sự: Đối với nguyên đơn và bị đơn, chị Lê Thị G và anh Hoàng Văn H đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ nhưng anh H có đơn xét xử vắng mặt do điều kiện công việc làm ăn xa không tham gia phiên tòa được, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận đơn đề nghị xét xử vắng mặt cảu anh H và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử vắng mặt đối với anh H.
[2]. Về nội dung: Chị Lê Thị G và anh Hoàng Văn H kết hôn năm 2019 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện, do đó xác định quan hệ hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng trong sinh hoạt hàng ngày không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, khiến cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc dẫn đến việc hai bên sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị G và anh H do quan điểm sống không phù hợp, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai bên đã sống ly thân hoàn toàn nên cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị G, cho chị G được ly hôn với anh Hoàng Văn H là phù hợp thực tế và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quyền nuôi con chung: Chị G và anh H tự nguyện thoả thuận chị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng Tuấn T, anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng Chí T1. Anh H vắng mặt tại phiên tòa nên giao cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng Tuấn T, sinh ngày 18/9/2019, anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng Chí T1, sinh ngày 19/8/2021.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị G, anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về quyền thăm nom con: Sau khi ly hôn, chị G, anh H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không được ai ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị G, anh H có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Chị G và anh H đều trình bày bằng văn bản là xác định không có.
Về án phí: Chị G phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 143, Điều 147, Điều 227, Điều 228 BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị G, cho chị G được ly hôn anh Hoàng Văn H.
- Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Lê thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Hoàng Tuấn T, sinh ngày 18/9/2019; Anh Hoàng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Hoàng Chí T1, sinh ngày 19/8/2021 cho đến khi các con chung tròn 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị G, anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết
Về quyền thăm nom con: Chị G, anh H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không được ai ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị G, anh H có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
- Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị G phải chịu án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nộp sung quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ - Biên lai số 0003968 ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Thông báo quyền kháng cáo: Án xét xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho những người này biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án đối với nguyên đơn; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị đơn./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN HỒNG MÂY |
Bản án số 66/2024/HNGĐ - ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
