Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 66/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04/01/2024

V/v: Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 2440/2023/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 10 năm 203 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7572/2023/QĐXX-DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7572.1/2023/QĐ-HPT ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Trọng T, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Số E Đường C, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(ông Trần Trọng T vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Bà Đỗ Thị Hiếu T1, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Số E Đường C, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà Đỗ Thị Hiếu T1 vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và các biên bản làm việc khác có trong hồ sơ, nguyên đơn ông Trần Trọng T trình bày:

Ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 chung sống với nhau từ năm 2007, do tự nguyện, có đăng ký kết hôn số 84 ngày 30/5/2012 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống chung thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng nhau, không tôn trọng nhau, những lần gây gổ, cãi vã cả hai thường không kiểm soát được nên có những lời nói xúc phạm tới gia đình, cha mẹ hai bên, làm tổn thương lẫn nhau. Sự việc diễn ra liên tục tới nay đã rất trầm trọng không thể cứu vãn. Ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 đã tự sống ly thân hai năm nay và trong thời gian sống ly thân cả hai đều không có ý hướng giải quyết mâu thuẫn. Nay ông T xác định mâu thuẫn giữa ông và bà T1 đã rất trầm trọng, ông xin được ly hôn với bà T1 để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Ông Trần Trọng T xác nhận ông và bà Đỗ Thị Hiếu T1 có một con chung tên Trần Ngọc Kim N, sinh ngày 14/7/2008. Hiện tại con đang ở cùng mẹ là bà Đỗ Thị Hiếu T1. Ly hôn ông Trần Trọng T đồng ý giao cho bà Đỗ Thị Hiếu T1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Trần Ngọc Kim N. Ông Trần Trọng T cấp dưỡng nuôi con tùy vào khả năng của mình.

Về tài sản chung: Ông Trần Trọng T xác nhận ông và bà Đỗ Thị Hiếu T1 không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông Trần Trọng T xác nhận ông và bà Đỗ Thị Hiếu T1 không có nợ chung.

Tại phiên tòa, ông Trần Trọng T có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn: Bà Đỗ Thị Hiếu T1 vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên bà Đỗ Thị Hiếu T1 có ý kiến trình bày trong bản tự khai, biên bản hòa giải công khai chứng cứ và các biên bản làm việc khác có trong hồ sơ với nội dung:

Bà Đỗ Thị Hiếu T1 và ông Trần Trọng T chung sống với nhau từ năm 2007, do tự nguyện, có đăng ký kết hôn số 84 ngày 30/5/2012 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Khoảng năm 2016 trở lại đây vợ chồng thường xuyên bất hòa, gây gổ, cãi vã và xúc phạm nhau. Nguyên nhân do ông Trần Trọng T không trung thủy, qua lại với nhiều người phụ nữ khác, bà T1 đã khuyên nhủ nhưng ông T không sửa đổi. Vợ chồng đã tự sống ly thân hai năm nay, trong suốt khoảng thời gian sống ly thân cuộc sống của ai người đó tự lo, cả hai cũng không có bất cứ lần nào tìm gặp để hàn gắn. Đối với yêu cầu xin ly hôn của ông T bà không có ý kiến gì, do bà theo đạo thiên chúa nên không ký biên bản thuận tình ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Bà Đỗ Thị Hiếu T1 xác nhận bà và ông Trần Trọng T có một con chung tên Trần Ngọc Kim N, sinh ngày 14/7/2008. Trong suốt quá trình vợ chồng sống ly thân và tới hiện tại con vẫn do bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Trọng T không có mức cấp dưỡng nuôi con cố định hàng tháng mà chỉ cho con theo khả năng, bản thân bà T1 cũng không đòi hỏi, bà tự lao động, làm thuê kiếm tiền hàng tháng đủ để nuôi con ăn, học. Do bà không ký thủ tục thuận ly nên việc giao con cho ai nuôi sau khi ly hôn cũng như việc cấp dưỡng nuôi con bà T1 cũng không có ý kiến, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định.

Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị Hiếu T1 xác nhận bà và ông Trần Trọng T không có tài sản chung.

Nợ chung: Bà Đỗ Thị Hiếu T1 xác nhận bà và ông Trần Trọng T không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thẩm quyền: Ông Trần Trọng T xin ly hôn với bà Đỗ Thị Hiếu T1, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thời điểm tòa án thụ lý vụ án bà Đỗ Thị Hiếu T1 đang sống tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn - ông Trần Trọng T vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt; bị đơn bà Đỗ Thị Hiếu T1 đã được tòa án tống đạt quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần 2 hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không báo lý do. Áp dụng quy định tại Khoản 1, Đ b Khoản 2 Điều 227; điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà T1 theo thủ tục chung.

- Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 30/5/2012 do Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh cấp thì hôn nhân giữa ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 được pháp luật công nhận là hợp pháp.

Ông Trần Trọng T yêu cầu ly hôn với bà Đỗ Thị Hiếu T1 do ông xác định hết tình cảm và không muốn duy trì cuộc sống chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tại bản tự khai và các biên bản làm việc khác có trong hồ sơ cả ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 cùng thừa nhận hai bên thường hay bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau, dẫn đến gây gổ, cãi vã, xúc phạm nhau; đã tự sống ly thân hai năm nhưng không bên nào tìm được hướng hàn gắn lại; ông Trần Trọng T cương quyết xin ly hôn, bà Đỗ Thị Hiếu T1 không có ý kiến gì, do bà theo đạo thiên chúa nên không tự ý ký biên bản thuận tình ly hôn mà đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Qua đó thấy rằng mâu thuẫn giữa ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 là có thật. Ông Trần Trọng T thật sự muốn ly hôn nên không tìm hướng hàn gắn, bà Đỗ Thị Hiếu T1 tuy không mong muốn ly hôn nhưng cũng không tìm hướng để cải thiện mối quan hệ của hai bên, qua đó thấy rằng tình cảm của ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 đã không còn đủ lớn để vị nhau xây dựng cuộc sống chung.

Xét mâu thuẫn gia đình giữa ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của ông Trần Trọng T có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 cùng xác nhận ông, bà có một con chung tên Trần Ngọc Kim N, sinh ngày 14/7/2008. Ông Trần Trọng T đề nghị giao con chung Trần Ngọc Kim N cho bà Đỗ Thị Hiếu T1 nuôi dưỡng. Ông Trần Trọng T cấp dưỡng nuôi con tùy vào khả năng của mình.

Xét: Lời khai của bà Đỗ Thị Hiếu T1 có trong hồ sơ cũng xác nhận bà và ông T có một con chung tên Trần Ngọc Kim N, sinh ngày 14/7/2008, hiện bà T1 đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Trọng T đề nghị giao con chung Trần Ngọc Kim N cho bà Đỗ Thị Hiếu T1 tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng bà T1 không có ý kiến gì nhưng cũng không phản đối. Để đảm bảo cho trẻ Trần Ngọc Kim N có môi trường sống, học tập ổn định Hội đồng xét xử xét thấy giao trẻ Trần Ngọc Kim N cho bà Đỗ Thị Hiếu T1 trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý. Bà Đỗ Thị Hiếu T1 không có yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con cụ thể nên chấp nhận đề nghị Ông Trần Trọng T cấp dưỡng nuôi con tùy theo khả năng của ông T.

Về tài sản chung: Ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 cùng xác nhận ông, bà không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 cùng xác nhận ông, bà không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Trần Trọng T có yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 9; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điều 186; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Ông Trần Trọng T được ly hôn với bà Đỗ Thị Hiếu T1.

Về con chung:

Giao con chung tên Trần Ngọc Kim N, sinh ngày 14/7/2008 cho bà Đỗ Thị Hiếu T1 là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Đỗ Thị Hiếu T1 không yêu cầu ông Trần Trọng T cấp dưỡng nuôi con, ông Trần Trọng T cấp dưỡng nuôi con tùy theo khả năng của mình.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung:

Ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 cùng xác nhận ông, bà không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), ông Trần Trọng T phải chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Trần Trọng T đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số AA/2023/0005828 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 18/10/2023. Ông Trần Trọng T đã nộp đủ tiền án phí.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

3. Quyền kháng cáo:

Ông Trần Trọng T và bà Đỗ Thị Hiếu T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND T.p Thủ Đức;
  • - THA DS T.p Thủ Đức;
  • - TAND T . p Hồ Chí Minh;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hòa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Ông Trần Trọng T được ly hôn với bà Đỗ Thị Hiếu T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger