TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/DS-ST Ngày: 06/6/2024 V/v tranh chấp “hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Được và bà Phạm Xuân Đào.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2024/TLST- DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 223/2024/QĐ-TA ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T11 (sau đây được gọi tắt là Công ty J
Người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng: Ông Trương Quốc B năm 1984; địa chỉ: Lầu A, tòa nhà C, 72- G N, phường V, Quận C, Thành phố H đại diện theo ủy quyền theo các Văn bản ủy quyền số 17/UQ-JIVF ngày 19/9/2023 của ông TANIGUCHI NOBORU – Tổng giám đốc JIVF và Văn bản ủy quyền số 274/UQ-JIVF ngày 15/3/2024 của bà Trần Việt N Phó Bộ phận Quản lý công nợ, (ông B1 mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T năm 1983; địa chỉ: số B, tổ A, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại các phiên hòa giải, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Công ty T11 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 930210002563484000 ký ngày 21/02/2022 với ông Nguyễn Minh T1 hợp đồng ông T2 vi phạm nghĩa vụ, vi phạm cam kết trả nợ. Nay Công ty J1 kiện yêu cầu ông T3 thanh toán một lần khoản nợ tạm tính đến hết ngày 25/12/2023 là 14.161.479 đồng. Và tiếp tục yêu cầu ông T4 toán cho Công ty JIVF tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí từ sau ngày 25/12/2023 cho đến khi thanh toán dứt nợ theo hợp đồng đã ký kết.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: 01 (một) bản sao giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn; giấy ủy quyền số 17 ngày 19/5/2023; Bản sao, hợp đồng tín dụng số 930210002563484000 ký ngày 21/02/2022, các thủ tục đăng ký hoạt động của Công ty J
Bị đơn Nguyễn Minh T5 vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến, không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn vắng mặt, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày, vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu bà C có nghĩa vụ trả cho Công ty J gồm vốn và lãi tính đến ngày 06/6/2024: gốc 12.943.423 đồng, lãi 2.864.078 đồng, lãi quá hạn 1.889.306 đồng; tổng cộng 17.756.807 đồng, tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày 06/6/2024 cho đến khi trả hết nợ. Rút lại yêu cầu đối với phí quản lý khoản vay số tiền 60.000 đồng; Ngoài ra, không yêu cầu tính bất cứ khoản lãi phát sinh nào khác.
Bị đơn Nguyễn Minh T5 vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến, không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
- - Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234; bị đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 và Điều 234 từ khi thụ lý vụ án, tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 76 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về giải quyết vụ án: Công ty T11 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 930210002563484000 ký ngày 21/02/2022 với ông Nguyễn Minh T5 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, khi vay có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của ông T6 ông T không trả tiền vốn và lãi suất Công ty JIVF theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Công ty J khởi kiện yêu cầu bà C có nghĩa vụ trả vốn gốc và lãi tính đến ngày 06/6/2024: gốc 12.943.423 đồng, lãi 2.864.078 đồng, lãi quá hạn 1.889.306 đồng; tổng cộng 17.756.807 đồng, tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày 06/6/2024 cho đến khi trả hết nợ. Phía nguyên đơn, rút lại yêu cầu đối với phí quản lý khoản vay số tiền 60.000 đồng. Việc rút yêu cầu này của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên đình chỉ theo Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng, đề xuất: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T11. Buộc ông Nguyễn Minh T5 có nghĩa vụ trả cho Công ty T11 số tiền tính đến ngày 06/6/2024 là 17.756.807 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh do nợ quá hạn từ sau ngày 06/6/2024 cho đến khi hết nợ. Đình chỉ yêu cầu của Công ty T1JACCS đối với phí quản lý khoản vay số tiền 60.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả tiền vay và lãi suất; căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”.
[2] Về thẩm quyền: bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: bị đơn vắng mặt tuy được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[4] Về nội dung:
[4.1] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng: Công ty T11 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 930210002563484000 ký ngày 21/02/2022 với ông Nguyễn Minh T5 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, khi vay có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của ông T6 ông T7 trả tiền vốn và lãi suất Công ty JIVF theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Công ty J khởi kiện yêu cầu bà C1 nghĩa vụ trả gốc và lãi tính đến ngày 06/6/2024 số tiền 17.756.807 đồng, tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày 06/6/2024 cho đến khi trả hết nợ.
[4.2] Về nhận định, đánh giá tài liệu, chứng cứ: Hợp đồng tín dụng số 930210002563484000 ký ngày 21/02/2022 với ông Nguyễn Minh T5 số tiền đã giải ngân 50.000.000 đồng, ông T đã nhận đủ; đánh giá hợp đồng tín dụng được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, khi vay các bên có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của ông T6 ông T không trả tiền vốn và lãi suất Công ty JIVF theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Công ty J khởi kiện yêu cầu ông T có nghĩa vụ trả gốc và lãi tạm tính đến ngày 06/6/2024, cụ thể: vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn với số tiền 17.756.807 đồng, tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày 06/6/2024 cho đến khi hết nợ. là phù hợp quy định pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
[5] Về việc rút lại yêu cầu phí quản lý khoản vay: phía nguyên đơn rút lại không yêu cầu đối với phí quản lý khoản vay số tiền 60.000 đồng, việc rút yêu cầu này là tự nguyện phù hợp quy định Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên đình chỉ.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 354.000 đồng (ba trăm năm mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0014931 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Bị đơn Nguyễn Minh T5 phải chịu án phí theo quy định là 5% số tiền có nghĩa vụ phải trả cho nguyên đơn, tương ứng 887.800 đồng (tám trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Đánh giá quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273; Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ các 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 49 Nghị định 21/CP của Chính phủ; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1JACCS đối với ông Nguyễn Minh T8
Buộc ông Nguyễn Minh T5 có nghĩa vụ trả cho Công ty T11 số tiền gốc và lãi tính đến ngày 06/6/2024 là 17.756.807 đồng (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm lẻ bảy đồng).
Tiếp tục tính lãi phát sinh do nợ quá hạn sau ngày 06/6/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 930210002563484000 ký ngày 21/02/2022 giữa Công ty T11 với ông Nguyễn Minh T9 đến khi ông T thanh toán dứt nợ.
Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đối với phí quản lý khoản vay số tiền 60.000 đồng (sáu mươi nghìn).
Về án phí: Công ty T11 được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 354.000 đồng (ba trăm năm mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0014931 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Bị đơn Nguyễn Minh T10 chịu 887.800 đồng (tám trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Công ty T11 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn Nguyễn Minh T5 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc được niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Huy Phong |
Bản án số 66/2024/DS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 66/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty JACCS.
