|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/DS-PT Ngày: 13/06/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Võ Đình Phương |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Trung Tín |
| Bà Lê Thị Hiền | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: | Bà Lê Đăng Phương Huệ - Kiểm sát viên. |
Ngày 13 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, tranh chấp hợp đồng tín dụng, yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp tài sản”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 62/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QĐ-PT ngày 04/6/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- Bà Bùi Thị Thùy D, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số A Ngách A Đ, tổ B, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị Hạnh N, sinh năm 1981. Địa chỉ thường trú: Tổ dân phố V, phường M, quận B, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ hiện nay: Số F Ngõ G, đường B, khu đô thị T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
- Bà Phạm Thị T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ A, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ hiện nay: Số I đường T, phường M, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N và bà T: Ông Nguyễn Hoài P, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số B đường C, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
1
* Bị đơn:
Công ty Cổ phần T4. Địa chỉ: Lô T, lô D14d, Lô T, khu D, khu D bán đảo C, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hà Thị Phương T1 - Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Liêu Thị Ngọc L, sinh năm 1983 và bà Trần Thị Thanh T2, sinh năm 1988 – Chuyên viên pháp chế. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng thương mại cổ phần H1 (M). Địa chỉ: Số E N, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A Ngách A Đ, tổ B, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Ông Trần Ngọc D1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Công chứng viên Nguyễn Chính H
- Công chứng viên Đặng Thị Ngọc A
- Văn phòng C
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L1 – Tổng giám đốc. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số A đường L (kéo dài), phường N, quận T, Thành phố Hà Nội. Đều vắng mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị Hạnh N, bà Phạm Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Bùi Thị Thùy D trình bày:
Ngày 09/01/2019, bà D và Công ty Cổ phần T4 ký kết hợp đồng mua bán căn hộ dự án T A, mã căn hộ SeA05-09 tại tầng 5 tháp SEA, thời gian dự kiến bàn giao nhà là tháng 6 năm 2020.
Ngày 03/01/2020, Công ty có thông báo cho bà về việc triển khai vay vốn thanh toán tiền mua căn hộ - dự án The Arena của Ngân hàng H1 (M) với chính sách cho vay thế chấp tài sản bảo đảm bằng chính căn hộ bà đã mua theo Hợp đồng số SeA05-09/HĐMB-THE ARENA. Bà đã làm thủ tục thế chấp để vay vốn ngân hàng và tiếp tục thanh toán tiền mua căn hộ với số tiền được ngân hàng giải ngân là 520.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 1262.2020/HĐGD, quyển số 01,TP/CC- SCC/HĐGD do Văn phòng C, thành phố Hà Nội công chứng ngày 31/3/2020.
Tổng số tiền bà D đã nộp cho Công ty là 1.139.744.750 đồng. Tuy nhiên, đến thời điểm bàn giao là tháng 6/2020, do Công ty chưa hoàn thành xây dựng căn hộ và các tiện ích đi kèm nên không thực hiện việc bàn giao nhà. Bà đã nhiều lần gọi điện, gửi mail, thông báo với Công ty về việc giao nhà nhưng Công ty không đưa ra được lý do chính đáng mà liên tục trốn tránh trách nhiệm,
2
đổ lỗi do covid, do bị thanh tra...không thực hiện đúng cam kết nhưng vẫn liên tục đốc thúc bà đóng tiền thanh toán.
* Nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N trình bày:
Ngày 01/4/2019, bà N và Công ty Cổ phần T4 có ký kết hợp đồng mua bán căn hộ dự án T A, mã căn hộ WiA04- 43 tại tầng D tháp W, thời gian dự kiến bàn giao nhà là tháng 12/2020. Công ty đưa ra các thông tin về giá trị căn hộ, thông báo thanh toán về phương thức, tiến độ thanh toán và đề nghị bà ký kết thỏa thuận ký quỹ số WiA04- 43/TTKQ-THE ARENA26052018 ngày 26/5/2018. Theo thỏa thuận, số tiền bà đã chuyển cho Công ty là 541.222.000 đồng (tương đương 30% giá trị căn hộ).
* Nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:
Ngày 02/01/2019, bà T và Công ty Cổ phần T4 có ký kết hợp đồng mua bán căn hộ dự án T A, mã căn hộ SeAll-18 tại tầng 11 tháp SeA, thời gian dự kiến bàn giao nhà là tháng 06/2020. Theo như tiến độ ghi trong hợp đồng, bà đã thanh toán cho Công ty tổng số tiền là 1.582.964.924 đồng.
Các nguyên đơn cho rằng bị đơn đã vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật và lừa dối khách hàng, cụ thể:
- Công ty lừa dối khách hàng:
- + Không có giấy phép xây dựng khi ký Hợp đồng: Theo như Hợp đồng mua bán căn hộ ngày 09/01/2019 thì căn cứ 02 giấy phép xây dựng số 17/GPXD cấp ngày 04/02/2013 và số 20/GPXD-KTQH cấp ngày 07/02/2013 của Sở Xây dựng. Tuy nhiên cả 02 giấy phép này không có giấy nào ghi hạng mục công trình tháp S (tòa tháp chứa căn hộ nguyên đơn mua).
- + Không cung cấp các văn bản là căn cứ pháp lý để lừa dối khách hàng khi ký hợp đồng mua bán: phần căn cứ của Hợp đồng mua bán có rất nhiều văn bản pháp lý làm căn cứ để Công ty triển khai thực hiện dự án nhưng trước khi ký Hợp đồng đã không đưa cho khách hàng được xem và biết rõ các nội dung này để có căn cứ tin tưởng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người mua như Quyết định số 1749/QĐ-UBND tỉnh K cấp ngày 21/6/2016, sau khi tìm hiểu, nguyên đơn được biết Quyết định này phê duyệt đồ án điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 của khu nghỉ dưỡng T (điều chỉnh lần 4). Toàn bộ nội dung điều chỉnh là cấp Biệt thự và căn hộ có chiều cao không quá 2 tầng. Yêu cầu xây dựng khu du lịch không hình thành đơn vị ở. Quyết định này là một phần trong Quyết định số 791/QĐ-UBND ngày 25/3/2011 về dự án xây dựng bến Du thuyền và nghỉ dưỡng C. Như vậy quyết định này không phải quyết định phê duyệt dự án xây dựng các công trình đã ký trong hợp đồng; Quyết định số 3456/QĐ-UBND do UBND tỉnh K cấp ngày 17/11/2017 với nội dung: “hoàn thiện xây dựng cơ sở hạ tầng trước ngày 30/6/2019; hoàn thành dự án và đưa vào hoạt động trước ngày 30/12/2020”. Nếu tại thời điểm nguyên đơn chuẩn bị ký kết hợp đồng mà biết rõ nội dung Quyết định này thì đã không ký hợp đồng vì thời điểm hoàn thành xong cơ sở hạ tầng chỉ có 02 tháng, Công ty không thể thực hiện việc xây dựng này được. Tuy nhiên công ty T4 đã cố tình che dấu điều
3
kiện này làm cho khách hàng lầm tưởng về năng lực của Công ty nên ký hợp đồng mua bán dẫn đến quyền lợi chính đáng bị ảnh hưởng.
- + Không đủ điều kiện để ký hợp đồng mua bán căn hộ: căn cứ công văn số 703/BTNMT-TCQLDĐ ngày 14/02/2020 hướng dẫn chế độ sử dụng đất và việc chứng nhận quyền sở hữu công trình không phải nhà ở thì việc cấp GCN QSDĐ đối với trường hợp các dự án có công trình căn hộ du lịch, biệt thự du lịch có đủ điều kiện được chuyển nhượng theo quy định của Luật kinh doanh bất động sản thì việc chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng cho bên nhận chuyển nhượng được thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Nghị định số 43/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai. Đối chiếu các quy định pháp luật đó với trường hợp của nguyên đơn thì khi ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư không có giấy phép xây dựng, không có các văn bản chấp thuận cho phép xây dựng và huy động vốn của Công ty... tại thời điểm ký kết hợp đồng thì giao dịch giữa nguyên đơn và công ty T4 là vô hiệu.
- Công ty ký hợp đồng mua bán vi phạm điều cấm của luật:
- + Công ty đã huy động vốn cho dự án chung cư khi chưa được phép như ký thỏa thuận ký quỹ số SeA05-09/TTKQ-THE ARENA16042018 ngày 16/4/2018 trong khi dự án chưa có giấy phép xây dựng, chưa xây dựng, chưa hoàn thành bất kỳ hạng mục công trình nào.
- + Công ty G do biết có đối tượng không thể thực hiện được trong hợp đồng nhưng vẫn ký kết với chủ sở hữu: cụ thể, công ty T4 ký hợp đồng mua bán mà không có giấy phép xây dựng. Giấy phép xây dựng số 89/GPXD-SXD, tuy nhiên giấy phép này cấp ngày 15/11/2019 trong khi giao dịch và hợp đồng được ký ngày 01/4/2019 là vi phạm pháp luật. Ký hợp đồng mua bán khi chưa được phép bán sản phẩm hay sản phẩm chưa có mà chủ đầu tư lại ký bán. Theo Điều 407,408 BLDS năm 2015 hợp đồng này sẽ vô hiệu có đối tượng không thể thực hiện được, đây là lỗi của Công ty và phải bồi thường thiệt hại.
- + Công ty T4 đã ký hợp đồng khi biết có đối tượng không thể thực hiện được: theo Hợp đồng mua bán căn hộ thì thời hạn sử dụng là 50 năm, tuy nhiên thực chất kể từ khi ký hợp đồng nhận và bàn giao nhà đến khi hết thời hạn sử dụng đất chỉ còn hơn 37 năm, cụ thể theo GCN QSD đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV412821 thì thời hạn sử dụng đến ngày 09/12/2059; theo GCN QSD đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV412822 thì thời hạn sử dụng đến ngày 09/12/2059. Như vậy việc Công ty xác định thời hạn thuê đất trong hợp đồng là 50 năm nhưng biết rõ nội dung không đúng với GCN QSD đất đã được cấp đã rõ ràng lừa đảo khách hàng.
Từ những vi phạm nêu trên:
- Bà Bùi Thị Thùy D yêu cầu:
Tuyên bố hợp đồng mua bán căn hộ dự án The Arena số SeA05-09/HĐMB/THE ARENA ký kết ngày 09/01/2019 giữa bà Bùi Thị Thùy D và Công ty CP T4 vô hiệu.
4
Buộc Công ty CP T4 hoàn trả cho bà D toàn bộ số tiền đã thanh toán là 1.139.744.750 đồng và bồi thường thiệt hại do gian dối khi ký thỏa thuận ký quỹ và hợp đồng mua bán căn hộ để chiếm dụng số tiền là 1.139.744.750 đồng và được tính thiệt hại theo lãi suất cho vay của Ngân hàng TMCP H1 kể từ thời điểm chiếm dụng.
Tuyên hủy Hợp đồng thế chấp số MB 15B/HĐTC/QĐ-3097 ký ngày 31/3/2020 giữa bà Bùi Thị Thùy D, ông Nguyễn Hoàng Q với Ngân hàng TMCP H1. Buộc Công ty CP T4 phải đối trừ nghĩa vụ cho bà để thanh toán toàn bộ nợ gốc và tiền lãi cho số tiền được giải ngân từ hợp đồng tín dụng từ số tiền phải hoàn trả và bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn.
- Bà Lê Thị Hạnh N yêu cầu:
Tuyên bố hợp đồng mua bán căn hộ dự án The Arena số WiA04-43/HĐMB/THE ARENA ký kết ngày 01/4/2019 giữa bà Lê Thị Hạnh N và Công ty CP T4 vô hiệu.
Buộc Công ty CP T4 hoàn trả cho bà N toàn bộ số tiền đã thanh toán là 1.262.850.160 đồng và bồi thường thiệt hại do gian dối khi ký thỏa thuận ký quỹ và hợp đồng mua bán với căn hộ để chiếm dụng số tiền là 1.262.850.160 đồng và được tính thiệt hại theo lãi suất cho vay của Ngân hàng TMCP H1 kể từ thời điểm chiếm dụng.
Tuyên hủy Hợp đồng thế chấp số công chứng 1207.2020/HĐGD quyển số 01; TP/CC- SCC/HĐGD Văn phòng C, thành phố Hà Nội công chứng ngày 27/3/2020 giữa bà Lê Thị Hạnh N, ông Trần Ngọc D1 với ngân hàng TMCP H1. Buộc Công ty CP T4 phải đối trừ nghĩa vụ cho nguyên đơn để thanh toán toàn bộ nợ gốc và tiền lãi cho số tiền được giải ngân từ hợp đồng tín dụng từ số tiền phải hoàn trả và bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn.
- Bà Phạm Thị T yêu cầu:
Tuyên bố hợp đồng mua bán căn hộ dự án The Arena số SeAll-18/HĐMB/THE ARENA ký kết ngày 02/01/2019 giữa bà Phạm Thị T và Công ty CP T4 vô hiệu.
Buộc Công ty CP T4 hoàn trả cho bà T toàn bộ số tiền đã thanh toán là 1.939.984.000đồng trong đó số tiền đã thanh toán là 1.582.964.924đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của Công ty theo lãi suất cho vay của Ngân hàng TMCP H1 kể từ thời điểm chiếm dụng là 357.019.538 đồng.
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Hợp đồng mua bán ký kết giữa các bên có đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 Bộ Luật Dân sự 2015. Các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, trên tinh thần tự nguyện, đã tìm hiểu kỹ thông tin Dự án và đã được ghi nhận tại Điều 17.2.1 và Điều 17.2.2 của Hợp đồng mua bán. Nội dung và mục đích của các bên là mua bán căn hộ du lịch, phù hợp với tính chất của Dự án và quy định pháp luật, không vi phạm điều cấm của Luật.
5
Việc UBND tỉnh K tạm dừng giải quyết thủ tục hành chính Dự án The Arena để chờ kết luận Thanh tra Chính phủ, Công ty đề nghị cấp GPXD cho dự án được điều chỉnh theo quy hoạch mới từ năm 2018 nhưng đến ngày 15/11/2019, mới được cấp Giấy phép xây dựng số 89/GPXD-SXD. Cục giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng - Bộ X đã có Thông báo 102/QĐ-GĐ3/HT ngày 01/6/2021 thông báo kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công tác xây dựng tại Tòa A1 (L2), A2 (Sea); Thông báo số 14/GĐ-GĐ3/HT ngày 26/01/2022 Thông báo chấp thuận nghiệm thu hoàn thành công trình tại Tòa A3 (W), A4 (S1). Như vậy, điều kiện về giấy phép xây dựng đã được khắc phục và các tòa nhà có căn hộ đã được phép đưa vào sử dụng, đủ điều kiện bàn giao căn hộ cho các nguyên đơn.
Dự án T được Nhà nước cho thuê đất thương mại dịch vụ, hình thức thuê đất là đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê theo các quyết định cho thuê đất của UBND tỉnh K: Quyết định số 332/QĐ-UBND ngày 30/01/2018; Quyết định 517/QĐ-UBND ngày 12/2/2018; Quyết định 2327/QĐ-UBND ngày 03/9/2020. Về tiền thuê đất: Đây là nghĩa vụ hành chính mà Chủ đầu tư phải thực hiện với Nhà nước sau khi cơ quan thuế ban hành thông báo nộp tiền thuê đất, không phải là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hay điều kiện bàn giao căn hộ. Theo hướng dẫn của cơ quan thuế, Công ty đã nộp được 45.358.021.051đồng tiền thuê đất, số tiền còn lại UBND tỉnh vẫn chưa xác định giá đất nên Công ty chưa có cơ sở đóng tiền thuê đất.
The Arena là Dự án đầu tư xây dựng căn hộ du lịch nên không thuộc đối tượng điều chỉnh của Khoản 2 Điều 55 Luật Kinh doanh Bất động sản. Dự án The Arena không thuộc trường hợp phải có văn bản chấp thuận đủ điều kiện được bán căn hộ du lịch của Sở X1. Dự án The Arena không thuộc trường hợp phải mở bảo lãnh theo quy định tại Điều 56 Luật Kinh doanh bất động sản. Quy định này chỉ áp dụng với Dự án nhà ở hình thành trong tương lai, không áp dụng với dự án đầu tư, xây dựng căn hộ du lịch, biệt thự du lịch.
Về thiết kế mặt bằng căn hộ và tiện ích dự án, Công ty triển khai thi công căn hộ theo phong cách căn hộ mẫu được trưng bày trong giai đoạn giới thiệu về dự án. Các hạng mục công tình, tiện ích của dự án đều đã hoàn thiện để phục vụ cho việc bàn giao căn hộ theo phụ lục 4. Thực tế Bị đơn đã xây dựng, trang bị nội thất trong căn hộ đúng với quy định của HĐMB. Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ do Tòa án thực hiện cũng đã ghi nhận đặc điểm căn hộ và vật liệu bên trong căn hộ phù hợp với miêu tả tại Phụ đính 3, Phụ lục 1 HĐMB.
Quá trình thực hiện hợp đồng mua bán, do sự kiện bất khả kháng từ dịch bệnh covid-19 và việc UBND tỉnh K tạm dừng thực hiện thủ tục pháp lý đối với các dự án, trong đó có dự án T đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công và Công ty đã thông báo gia hạn thời hạn bàn giao căn hộ cho khách hàng. Việc lùi ngày bàn giao theo dự kiến do tác động của 02 sự kiện bất khả kháng. Việc lùi ngày bàn giao dự kiến do bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng không bị coi là vi phạm hợp đồng. Tòa A1, A2 đảm bảo điều kiện bàn giao theo HĐMB theo thông báo số 102/GĐ-GDD3/HT, ngày 01/6/2021 và Tòa A3, A4 đảm bảo điều kiện bàn
6
giao theo HĐMB theo thông báo số 14/GĐ-GDD3/HT, ngày 26/01/2022 của Cục G1 về chất lượng công trình xây dựng về kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng. Công ty CP T4 đã thông báo cho bên mua thời gian nhận bàn giao căn hộ từ 18/6 - 25/6/2021 đối với các căn hộ thuộc Tòa nhà L, S và thời gian nhận bàn giao căn hộ từ 25/02-15/3/2022 đối với các căn hộ thuộc Tòa nhà S, W; Yêu cầu bên mua thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo tiến độ hợp đồng khi đến hạn nhận bàn giao căn hộ nhưng các ông bà nêu trên không thực hiện.
Bị đơn yêu cầu phản tố đối với các nguyên đơn và đề nghị Tòa án giải quyết như sau:
- Yêu cầu chấm dứt hợp đồng với bà Lê Thị Hạnh N do nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán và phải bồi thường cho Công ty cổ phần T4 tổng số tiền là 245.921.722 đồng.
- Yêu cầu chấm dứt hợp đồng với bà Bùi Thị Thùy D do nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán và phải bồi thường cho Công ty cổ phần T4 tổng số tiền là 245.921.722 đồng.
- Yêu cầu chấm dứt hợp đồng với bà Phạm Thị T do nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán và phải bồi thường cho Công ty cổ phần T4 tổng số tiền là 718.061.248 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố đối với các nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 (gọi tắt là Ngân hàng M) trình bày:
- Yêu cầu đối với bà Bùi Thị Thùy D:
Ngày 31/3/2020, M – Chi nhánh Đ – phòng G2 và bà Bùi Thị Thùy D ký kết Hợp đồng cho vay số 3103/2020/HĐCV với số tiền vay: 520.000.000 đồng. Mục đích vay vốn thanh toán một phần chi phí mua căn hộ SeA05- 09/HĐMB-THE ARENA ngày 09/01/2019 thuộc dự án THE ARENA tại địa chỉ Khu D - Khu D, phường C, thành phố C và đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Bùi Thị Thùy D và ông Nguyễn Hoàng Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, đồng thời vi phạm về điều khoản trả nợ trước hạn theo hợp đồng đã ký kết. Chính vì vậy, Ngân hàng yêu cầu bà Bùi Thị Thùy D và ông Nguyễn Hoàng Q phải trả ngay cho MSB số tiền 616.313.360 đồng như đã khai ở trên. Kể từ ngày 23/9/2023, bà Bùi Thị Thùy D và ông Nguyễn Hoàng Q còn tiếp tục phải trả cho MSB số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay, các phụ lục và Giấy nhận nợ đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi tất toán khoản vay. Ngoài ra, các ông bà trên còn phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng.
7
- Yêu cầu đối với bà Lê Thị Hạnh N:
Ngày 27/3/2020, M – Chi nhánh C1 và bà Lê Thị Hạnh N ký kết Hợp đồng cho vay số 86 ARENA/2020/HĐCV với số tiền vay: 879.500.000 đồng. Mục đích vay thanh toán một phần chi phí mua căn hộ WiA04- 43/HĐMB-THE ARENA, tầng 4, tháp Wi thuộc dự án THE ARENA tại địa chỉ Khu D - Khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Số tiền được giải ngân thực tế theo Giấy nhận nợ là 721.628.160 đồng, kể từ ngày 30/3/2020; tài sản thế chấp là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua căn hộ WiA04-43/HĐMB-THE ARENA ký kết ngày 01/4/2019.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lê Thị Hạnh N và ông Trần Ngọc D1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, đồng thời vi phạm về điều khoản trả nợ trước hạn theo hợp đồng đã ký kết. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu bà Lê Thị Hạnh N và ông Trần Ngọc D1 phải trả ngay cho MSB số tiền 879.972.151 đồng như đã khai ở trên. Kể từ ngày 23/9/2023, bà Lê Thị Hạnh N và ông Trần Ngọc D1 còn tiếp tục phải trả cho MSB số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay, các phụ lục và Giấy nhận nợ đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi tất toán khoản vay.
Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Cụ thể:
- + Bác yêu cầu của nguyên đơn bà Bùi Thị Thùy D về việc tuyên bố hợp đồng mua bán căn hộ dự án The Arena số SeA05-09/HĐMB/THE ARENA ký kết ngày 09/01/2019 giữa bà Bùi Thị Thùy D và Công ty CP T4 vô hiệu. Bác yêu cầu buộc Công ty CP T4 hoàn trả cho bà Bùi Thị Thùy D toàn bộ số tiền đã thanh toán là 1.139.744.750 đồng và bồi thường thiệt hại do gian dối khi ký thỏa thuận ký quỹ và hợp đồng mua bán căn hộ để chiếm dụng số tiền là 1.139.744.750 đồng và được tính thiệt hại theo lãi suất cho vay của Ngân hàng TMCP H1 kể từ thời điểm chiếm dụng và bác yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng thế chấp số MB 15B/HĐTC/QĐ -3097 ký ngày 31/3/2020 giữa bà Bùi Thị Thùy D, ông Nguyễn Hoàng Q với Ngân hàng TMCP H1.
- + Bác yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N về việc tuyên bố hợp đồng mua bán căn hộ dự án The Arena số WiA04-43/HĐMB/THE ARENA ký kết ngày 01/4/2019 giữa bà Lê Thị Hạnh N và Công ty CP T4 vô hiệu. Bác yêu cầu buộc Công ty CP T4 hoàn trả cho bà Lê Thị Hạnh N toàn bộ số tiền đã thanh toán là 1.262.850.160 đồng và bồi thường thiệt hại do gian dối khi ký thỏa thuận ký quỹ và hợp đồng mua bán căn hộ để chiếm dụng số tiền là 1.262.850.160 đồng và được tính thiệt hại theo lãi suất cho vay của Ngân hàng TMCP H1 kể từ thời điểm chiếm dụng và bác yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng thế chấp số công chứng 1207.2020/HĐGD quyển số 01TP/CC- SCC/HĐGD Văn phòng C, thành phố Hà Nội công chứng ngày 27/3/2020 giữa bà Lê Thị Hạnh N, ông Trần Ngọc D1 với ngân hàng TMCP H1.
- + Bác yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị T về việc tuyên bố hợp đồng mua bán căn hộ dự án The Arena số SeA11-18/HĐMB/THE ARENA ký kết ngày 02/01/2019 giữa bà Phạm Thị T và Công ty CP T4 vô hiệu. Bác yêu cầu buộc Công ty CP T4 hoàn trả cho bà Phạm Thị T toàn bộ số tiền đã thanh toán là
8
1.939.984.000 đồng trong đó số tiền đã thanh toán là 1.582.964.924 đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của CĐT theo lãi suất cho vay của Ngân hàng TMCP H1 kể từ thời điểm chiếm dụng là 357.019.538 đồng.
- - Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần T4 đối với các nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N; bà Bùi Thị Thùy D và bà Phạm Thị T.
- - Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- + Buộc bà Bùi Thị Thùy D và ông Nguyễn Hoàng Q phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền 616.313.360 đồng. Kể từ ngày 23/9/2023, bà Bùi Thị Thùy D và ông Nguyễn Hoàng Q còn tiếp tục phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.
- + Buộc bà Lê Thị Hạnh N và ông Trần Ngọc D1 phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền 879.972.151 đồng. Kể từ ngày 23/9/2023, bà Lê Thị Hạnh N và ông Trần Ngọc D1 còn tiếp tục phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quy định chung và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 20/12/2023, bà Phạm Thị T có đơn kháng cáo. Ngày 25/12/2023, bà Lê Thị Hạnh N kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà Phạm Thị T tự nguyện rút đơn kháng cáo, rút yêu cầu khởi kiện và bị đơn đồng ý với việc rút yêu cầu của bà T.
- Bà Lê Thị Hạnh N vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Bị đơn không đồng ý kháng cáo của bà N, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với các đương sự đều kháng cáo trước khi nhận được bản án. Do đó, việc kháng cáo của các đương sự đều trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Bà Phạm Thị T rút kháng cáo và rút yêu cầu khởi kiện và bị đơn đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy, đình chỉ đối với yêu cầu của bà T. Đối với yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Hạnh N không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N.
9
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 22/09/2023, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử vụ án và các đương sự đều vắng mặt. Theo Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị T và bà Lê Thị Hạnh N thừa nhận ngày 20/12/2023 nhận được bản án sơ thẩm. Theo hồ sơ kháng cáo Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh không có tài liệu chứng minh hai đương sự trên kháng cáo quá hạn. Như vậy, bà T và bà N đều kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bên nguyên đơn bà Phạm Thị T rút kháng cáo, rút yêu cầu khởi kiện và bị đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử hủy, đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện của bà T.
[2] Hội đồng xét xử xét kháng cáo:
[2.1] Xét Hợp đồng mua bán căn hộ giữa bà N với Công ty Cổ phần T4:
Theo các hợp đồng mua bán căn hộ được các nguyên đơn trình bày đã thực hiện ký kết với bên bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các bên đương sự đều thừa nhận việc ký kết hợp đồng như nội dung trình bày nêu trên. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, tham gia giao dịch tự nguyện và việc ký kết Hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện; Không có căn cứ xác định nguyên đơn bị lừa dối hay đe dọa khi ký kết Hợp đồng như trình bày của nguyên đơn. Do đó, các Hợp đồng mua bán căn hộ giữa các bên ký kết có hiệu lực pháp luật và phải được thực hiện theo cam kết.
[2.2] Bà N kháng cáo cho rằng hồ sơ dự án không đầy đủ và không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép nên yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu:
- - Theo hồ sơ vụ án cho thấy căn hộ các bên thực hiện việc mua bán thuộc Dự án là công trình xây dựng có đầy đủ hồ sơ được Ủy ban nhân dân tỉnh K phê duyệt theo Quyết định chủ trương đầu tư số 3456/QĐ-UBND ngày 17/11/2017, mục tiêu dự án: Đầu tư, xây dựng khu du lịch, dịch vụ thương mại và khu biệt thự du lịch, căn hộ du lịch; Quyết định số 3100/QĐ-UBND ngày 13/12/2012 về việc cho Công ty Cổ phần T4 thuê đất, giao đất tại các lô D14d, TT9b, TT13, thuộc khu D-Khu du lịch Bắc bán đảo C để sử dụng vào mục đích xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng Trần Thái Cam R và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- - Dự án có thiết kế được Bộ X thẩm định theo Công văn số 755/HĐXD-QLDA ngày 23/11/2018 của Cục Q1-Bộ X thông báo kết quả thẩm định thiết kế cơ sở công trình T5; Công văn số 296/HĐXD-QLKT ngày 23/5/2019 của Cục Q1-Bộ X thông báo kết quả thẩm định thiết kế kỹ thuật công trình The Arena; được cấp giấy phép xây dựng điều chỉnh số 89/GPXD-SXD ngày 15/11/2019. Ngày 01/6/2021, Cục G1 về chất lượng công trình xây dựng-Bộ X có Công văn
10
số 102/QĐ-GDD3/HT thông báo kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng. Tại Tờ trình số 5210/TTr-UBND ngày 15/6/2021 của UBND tỉnh K đã thể hiện: Dự án đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về thủ tục đầu tư, phù hợp quy hoạch, mục đích sử dụng đất, đánh giá tác động môi trường, phòng cháy chữa cháy, thẩm định thiết kế, cấp phép xây dựng. Chủ đầu tư đã được cấp Giấy phép xây dựng số 20/SXD-KTQH ngày 07/02/2013 và Giấy phép xây dựng bổ sung số 89/GPXD-SXD ngày 15/11/2019.
- Theo Quyết định 3456/QĐ-UBND ngày 17/11/2017 của UBND tỉnh K và Giấy chứng nhận đầu tư thì Dự án là “Dự án đầu tư, xây dựng khu du lịch, dịch vụ thương mại và khu biệt thự du lịch, căn hộ du lịch”, không phải là nhà ở. Tại Điều 1.1.6 của Hợp đồng các bên cũng đã thống nhất: “Căn hộ không phải là nhà ở hay nhà chung cư theo quy định của Luật Nhà ở”. Như vậy, Hợp đồng mua bán giữa các bên có mục đích là nhằm mua bán “căn hộ du lịch” với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng dài hạn hoặc ngắn hạn. Qua xem xét Hợp đồng, đối chiếu với các văn bản luật điều chỉnh có liên quan trong đó có Luật Kinh doanh bất động sản 2014, Hội đồng xét xử nhận thấy, không có quy định của luật nào cấm việc bán “căn hộ du lịch” hình thành trong tương lai. Do đó, mục đích, nội dung Hợp đồng được ký kết giữa các bên không vi phạm điều cấm của luật và có đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015.
Từ những cơ sở trên, hợp đồng mua bán căn hộ có hiệu lực theo quy định pháp luật và đảm bảo được thực hiện theo cam kết nên các nguyên đơn cho rằng Hợp đồng mua bán căn hộ vô hiệu và buộc bị đơn bồi thường thiệt hại là không có cơ sở.
[2.3] Về thiết kế, trang bị nội thất căn hộ:
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/4/2022 của Tòa án cấp sơ thẩm, đặc điểm căn hộ và các vật liệu bên trong căn hộ phù hợp với Phụ lục 1 của Hợp đồng, đã hoàn thành về cơ bản việc xây dựng căn hộ; căn hộ đủ điều kiện kỹ thuật và phòng cháy để đưa vào sử dụng; các bên cũng không có thỏa thuận nào về việc căn hộ thực tế được đối chiếu với căn hộ mẫu tại thời điểm ký kết Hợp đồng. Mặt khác, các bên chưa tiến hành bàn giao căn hộ theo Điều 8 Hợp đồng nên chưa có căn cứ xác định vi phạm của bị đơn về đặc điểm căn hộ và các vật liệu bên trong căn hộ.
[2.4] Bà N cho rằng quảng cáo sai sự thật, lừa dối khách hàng:
Theo phân tích nêu trên, các bên thỏa thuận theo hợp đồng với mục đích là mua bán căn hộ du lịch, đối tượng căn hộ này pháp luật không cấm việc chuyển nhượng và đủ điều kiện xác lập hợp đồng chuyển nhượng theo quy định pháp luật. Quá trình ký kết hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, được quyền tìm hiểu và quyết định ký hoặc không ký Hợp đồng. Do đó, không có căn cứ xác định nguyên đơn bị lừa dối hay đe dọa khi thực hiện giao dịch nên ý kiến của bà N cho rằng bị đơn đã lừa dối khách hàng. Vì vậy, bà N yêu cầu tuyên vô
11
hiệu, tuyên hủy hoặc chấm dứt hợp đồng như yêu cầu nêu trên là không có cơ sở chấp nhận.
[2.5] Về việc vi phạm thời hạn bàn giao căn hộ:
Theo các Điều 8.3.1, 14.1, 14.1.2, 14.3, 14.4 của Hợp đồng quy định các trường hợp xảy ra thiên tai, dịch bệnh... được xem là trường hợp bất khả kháng. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng phát sinh đại dịch Covid-19. Ngày 31/3/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19. Tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Theo quy định pháp luật thì dịch bệnh Covid-9 được xác định là sự kiện bất khả kháng và khi dịch bệnh xảy ra, dù phía Công ty đã áp dụng mọi biện pháp để nhưng không thể khắc phục được. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh K có các văn bản gồm: Văn bản số 4741/UBND-XDNĐ ngày 17/5/2018; Văn bản số 143/UBND-XDNĐ ngày 16/4/2018; Văn bản số 144/UBND-XDND ngày 09/5/2018 và Văn bản số 223/UBND ngày 27/6/2019 tạm dừng các dự án để chờ kết luận thanh tra một số dự án ở tỉnh Khánh Hòa. Đến ngày 05/4/2021, UBND tỉnh K mới có công văn số 2619/UBND-XDNĐ về việc bãi bỏ các văn bản yêu cầu tạm dừng thực hiện thủ tục của các dự án chờ kết luận thanh tra, kiểm tra. Việc Ủy ban nhân dân tỉnh K tạm dừng giải quyết thủ tục hành chính các dự án bất động sản để phục vụ công tác thanh kiểm tra của Thanh tra Chính phủ là trở ngại khách quan.
Như vậy, mặc dù các bên thỏa thuận trong Hợp đồng về thời hạn bàn giao dự kiến là tháng 6/2020 nhưng việc chậm bàn giao căn hộ là do sự kiện bất khả kháng và vì trở ngại khách quan nên Công ty không phải bồi thường thiệt hại. Việc chậm bàn giao căn hộ do sự kiện bất khả kháng, vì trở ngại khách quan không phải là căn cứ dẫn đến hợp đồng vô hiệu, chấm dứt Hợp đồng hoặc hủy Hợp đồng.
[2.6] Về yêu cầu phản tố của bị đơn về việc chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ đối với tất cả các nguyên đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn sơ thẩm bị đơn đã rút yêu cầu phản tố đối với các nguyên đơn nên cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử phần yêu cầu này là đúng quy định pháp luật.
[2.7] Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng thương mại cổ phần H1:
Theo trình bày các đương sự như nội dung nêu trên cho thấy các hợp đồng tín dụng được ký kết giữa: Bà Lê Thị Hạnh N và ông Trần Ngọc D1 với Ngân hàng H1 là phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực thực hiện. Việc các ông, bà nêu trên không thực hiện đúng các cam kết theo hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng H1 yêu cầu buộc các ông, bà phải thanh toán khoản nợ gốc, lãi là có cơ sở chấp nhận.
Trên cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
12
kháng cáo của bà N và sửa bản án sơ thẩm: Hủy đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện của bà T. Đối với các vấn đề khác của bản án sơ thẩm được giữ nguyên.
[3] Về án phí: Bà N và bà T phải chịu án phí dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Điều 299 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N; Sửa bản án sơ thẩm;
- Hủy, đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán căn hộ dự án The Arena số SeA11-18/HĐMB/THE ARENA ký kết ngày 02/01/2019 giữa bà Phạm Thị T và Công ty CP T4 vô hiệu và yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Bùi Thị Thùy D và bà Lê Thị Hạnh N, cụ thể như sau:
- Bác yêu cầu của nguyên đơn Bùi Thị Thùy D về việc tuyên bố hợp đồng mua bán căn hộ dự án The Arena số SeA05-09/HĐMB/THE ARENA ký kết ngày 09/01/2019 giữa bà Bùi Thị Thùy D và Công ty CP T4 vô hiệu. Bác yêu cầu buộc Công ty CP T4 hoàn trả cho bà Bùi Thị Thùy D số tiền đã thanh toán là 1.139.744.750 đồng, bồi thường thiệt hại số tiền là 1.139.744.750đồng và thiệt hại lãi theo lãi suất Ngân hàng TMCP H1 kể từ thời điểm chiếm dụng số tiền trên. Bác yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng thế chấp số MB 15B/HĐTC/QĐ - 3097 ký ngày 31/3/2020 giữa bà Bùi Thị Thùy D, ông Nguyễn Hoàng Q với Ngân hàng TMCP H1.
- Bác yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N về việc tuyên bố hợp đồng mua bán căn hộ dự án The Arena số WiA04-43/HĐMB/THE ARENA ký kết ngày 01/4/2019 giữa bà Lê Thị Hạnh N và Công ty CP T4 vô hiệu. Bác yêu cầu buộc Công ty CP T4 hoàn trả cho bà Lê Thị Hạnh N số tiền đã thanh toán là 1.262.850.160 đồng, bồi thường thiệt hại số tiền 1.262.850.160 đồng và thiệt hại lãi theo lãi suất Ngân hàng TMCP H1 kể từ thời điểm chiếm dụng số tiền trên. Bác yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng thế chấp số công chứng 1207.2020/HĐGD quyển số 01TP/CC- SCC/HĐGD Văn phòng C, thành phố Hà Nội công chứng ngày 27/3/2020 giữa bà Lê Thị Hạnh N, ông Trần Ngọc D1 với ngân hàng TMCP H1.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần T4 đối với các nguyên đơn Lê Thị Hạnh N; Bùi Thị Thùy D và Phạm Thị T.
13
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, cụ thể:
- Buộc bà Bùi Thị Thùy D và ông Nguyễn Hoàng Q phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền 616.313.360 đồng (Sáu trăm mười sáu triệu, ba trăm mười ba nghìn, ba trăm sáu mươi đồng). Kể từ ngày 23/9/2023, bà Bùi Thị Thùy D và ông Nguyễn Hoàng Q còn tiếp tục phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.
- Buộc bà Lê Thị Hạnh N và ông Trần Ngọc D1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền 879.972.151đồng (T3 trăm bảy mươi chín triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn một trăm năm mươi mốt đồng). Kể từ ngày 23/9/2023, bà Lê Thị Hạnh N và ông Trần Ngọc D1 còn tiếp tục phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.
* Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
- + Bà Bùi Thị Thùy D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 46.792.343đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 26.500.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0006566 ngày 29/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà D còn phải nộp 20.292.343 đồng (Hai mươi triệu hai trăm chín mươi hai nghìn ba trăm bốn mươi ba đồng).
- + Bà Bùi Thị Hạnh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 50.485.505đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 28.600.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0006567 ngày 29/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà N1 còn phải nộp 21.885.505đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm lẻ năm đồng).
- + Bà Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 70.499.520đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 35.000.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0006571 ngày 29/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà T còn phải nộp 35.499.520đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn năm trăm hai mươi đồng).
- Án phí phúc thẩm:
- + Bà Lê Thị Hạnh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
14
đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004568 ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà N đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
- + Bà Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004567 ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà N đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Đình Phương |
15
Bản án số 66/2024/DS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, tranh chấp hợp đồng tín dụng, yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 66/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, tranh chấp hợp đồng tín dụng, yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, tranh chấp hợp đồng tín dụng
