Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66a/2024/DSST

Ngày: 19/8/2024

V/v: “Tranh chấp HĐ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đào Phương Mai
  2. Ông Trần Ngọc Thịnh

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Cán bộ TAND quận Hoàn Kiếm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:

Ông Lê Việt Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 87/2024/TLST- DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST- DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 90/2024/QĐST-HPT ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1); Địa chỉ trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch HĐQT V1.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L, ông Phạm Tuấn A, ông Đỗ Thành T – Giám đốc và Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý

Uỷ quyền lại: Ông Nguyễn Phúc T1, ông Giàng A S – Cán bộ ngân hàng(xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thái Q, sinh năm 1980. Địa chỉ: số C ngách D B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 29/10/2019, Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là V1) và ông Nguyễn Thái Q ký Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804836 với số tiền vay là 780.000.000 đồng; Thời hạn vay: 96 tháng kể từng ngày 29/10/2019; Mục đích vay để thanh toán tiền mua xe ô tô mới 100%; Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 8.49%/ năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn được cố định trong thời hạn 6 tháng tính từ ngày 29/10/2019. Sau thời gian cố định nêu trên, lãi suất cho vay trong hạn được diều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chinh lãi suất đầu tiên là ngày 29/4/2020, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/7/2020. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đổi với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 96 tháng được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm diều chinh (+) biên độ 4.2%/năm. Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đổi với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiên lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là chiếc xe ô tô nhãn hiệu MAZDA 6 PREMIUM, màu xanh, biển kiểm soát 30G-015-12, số khung 43A6JC094181, số máy PY21190656 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 653677 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 25/10/2019 mang tên Nguyễn Thái Q. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ ... được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thể chấp cũng thuộc tài sản Thế chấp. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 29/10/2019 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng theo quy định pháp luật. Ngoài ra, ông Nguyễn Thái Q còn một khoản vay thẻ tín dụng với V1 theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử (gọi tắt là Hợp đồng thẻ tín dụng) số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 với hạn mức 35.300.000 đồng. Lãi suất: Theo quy định của V1 là 2,59%/năm tại thời điểm giải ngân và sẽ được ngân hàng điều chỉnh theo Quyết định về việc ban hành điều chỉnh lãi suất thẻ tín dụng khối Khách hàng cá nhân theo từng thời kỳ và công khai niêm yết tại các trụ sở của ngân hàng; Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng.

V1 đã giải ngân đủ số tiền vay 815.300.000 đồng theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 cho ông Nguyễn Thái Q theo đúng cam kết. Quá trình thực hiện hợp đồng, tạm tính đến ngày 11/08/2023 ông Nguyễn Thái Q mới thanh toán trả nợ cho ngân hàng: Đối với hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô đã trả nợ cho V1 là 248.140.387 đồng, trong đó nợ gốc đã trả: 130.127.223 đồng, nợ lãi đã trả: 118.013.164 đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ và quá hạn từ ngày 20/9/2021; Đối với khoản vay hợp đồng thẻ tín dụng mới trả được cho V1 6.007.437 đồng tiền gốc, vi phạm nghĩa vụ trả nợ và quá hạn ngày 1/9/2021. Ngân hàng xác định ông Nguyễn Thái Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của 02 khoản nợ trên kể từ ngày 01/09/2021 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 4 và điểm a, f khoản 1 Điều 6 của Điều kiện giao dịch chung về cho vay và thế chấp xe ô tô ngày 12/03/2018. Ngày 01/9/2021 V1 đã chuyển tất cả các khoản vay của Nguyễn Thái Q sang nợ quá hạn.

Nay đại diện ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Toà án giải quyết: a/ Yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thái Q phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Dư nợ tạm tính đến ngày 19/08/2024: Hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 là 1.047.636.347 đồng, trong đó nợ gốc: 649.872.777 đồng, nợ lãi trong hạn: 17.434.344 đồng và nợ lãi quá hạn: 380.329.226 đồng và Hợp đồng thẻ tín dụng số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 là 84.461.989 đồng, trong đó nợ gốc: 29.292.563 đồng, nợ lãi: 55.169.426 đồng; tổng cộng là: 1.132.098.336 đồng. b/Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay cho đến ngày thực tế ông Nguyễn Thái Q thanh toán hết nợ cho V1. c/Yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án: V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô mang nhãn hiệu MAZDA 6 PREMIUM, số khung: RN2G343 A6JC094181, số máy: PY21190656, BKS: 30G-015.12, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C công an thành phố H cấp ngày 25/10/2019 thuộc quyền sở hữu/ sử dụng của ông Nguyễn Thái Q và xin rút nội dung yêu cầu bị đơn thanh toán tiền phạt chậm trả lãi.

* Bị đơn là ông Nguyễn Thái Q: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc và yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Nhưng bị đơn đều không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án nên Tòa án không lấy được lời khai cũng không hòa giải được. Tòa án đã tống đạt đúng quy định quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tại phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về thời hiệu và thẩm quyền: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thời hiệu và thẩm quyền theo quy định. Thẩm phán lập hồ sơ, xác minh, thu thập chứng cứ, tiến hành giao các văn bản tố tụng và tiến hành trình tự, thủ tục tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng tại phiên tòa đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Do bị đơn đã thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch dân sự mà không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 BLDS nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thì thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Toà án đã xác minh và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát, nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật. Về việc vắng mặt của đương sự: Đây là lần thứ 2 bị đơn vắng mặt tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. HĐXX đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1 đối với ông Nguyễn Thái Q. Ông Q phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn cho ngân hàng tạm tính đến ngày 19/8/2024 là: Hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 là 1.047.636.347 đồng, trong đó nợ gốc: 649.872.777 đồng, nợ lãi trong hạn: 17.434.344 đồng và nợ lãi quá hạn: 380.329.226 đồng và Hợp đồng thẻ tín dụng số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 là 84.461.989 đồng, trong đó nợ gốc: 29.292.563 đồng, nợ lãi: 55.169.426 đồng; tổng cộng là: 1.132.098.336 đồng; Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phạt chậm trả lãi đã rút; Trường hợp ông Q không trả được nợ của khoản vay theo các hợp đồng cho vay thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp là xe ô tô để thu hồi nợ. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị đơn phải chịu án phí DSST có giá ngạch theo quy định căn cứ trên số tiền nợ phải thanh toán cho nguyên đơn, nguyên đơn được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí DSST. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: V1 khởi kiện ông Nguyễn Thái Q, có địa chỉ cư trú tại số C ngách D B, phường C, quận H, Hà Nội. Theo cung cấp của Công an phường C, quận H, Hà Nội thì bị đơn không còn sinh sống tại địa chỉ cư trú số C ngách D B, phường C, quận H, Hà Nội và đã chuyển đi nơi khác không rõ. Xét thấy bị đơn đã thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch dân sự mà không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 BLDS nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thì thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Toà án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Hoàn Kiếm.

- Về quan hệ pháp luật: V1 có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên buộc ông Nguyễn Thái Q phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo các hợp đồng vay đã ký giữa ngân hàng và ông Q. Số tiền tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên do đó quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đây là lần thứ 2 bị đơn vắng mặt tại phiên toà mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

* Về nội dung:

[1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc các bị đơn phải trả nợ gốc, nợ lãi đối với Hợp đồng tín dụng đã ký kết:

V1 và ông Nguyễn Thái Q ký kết Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 với nội dung chủ yếu sau: Số tiền vay là 780.000.000 đồng; Thời hạn vay: 96 tháng kể từ ngày 29/10/2019; Mục đích vay để thanh toán tiền mua xe ô tô mới 100% và Hợp đồng thẻ tín dụng số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 với hạn mức 35.300.000 đồng. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện việc ký kết các hợp đồng tín dụng là tự nguyện thoả thuận, ký kết bởi những người có đủ thẩm quyền, năng lực hành vi dân sự, phù hợp với giao dịch được xác lập, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 và Hợp đồng thẻ tín dụng số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 trên là hợp pháp và là căn cứ để các bên thực hiện.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là giải ngân cho bị đơn đủ số tiền vay theo các hợp đồng tại Đề nghị giải ngân ngày 29/10/2019, uỷ nhiệm chi ngày 29/10/2019... Bị đơn đã nhận đủ số tiền vay nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên các khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn theo quy định Điều 8 của Hợp đồng và Điều 4, khoản 1 Điều 6 của Điều kiện giao dịch chung về cho vay và thế chấp xe ô tô của V1. Ngân hàng khởi kiện ra Toà án yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ gốc, nợ lãi của các hợp đồng tín dụng là có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu của ngân hàng đối với đối với khoản nợ gốc, nợ lãi: Quá trình vay vốn bị đơn không thực hiện trả nợ gốc, lãi theo đúng lịch trả nợ cam kết, vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 1/9/2021 nên toàn bộ khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn. Theo đó các bị đơn còn nợ ngân hàng số tiền nợ tổng cộng của 02 hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 19/08/2024 là 1.132.098.336 đồng. Cụ thể: Hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 là 1.047.636.347 đồng, trong đó nợ gốc: 649.872.777 đồng, nợ lãi trong hạn: 17.434.344 đồng và nợ lãi quá hạn: 380.329.226 đồng và Hợp đồng thẻ tín dụng số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 là 84.461.989 đồng, trong đó nợ gốc: 29.292.563 đồng, nợ lãi: 55.169.426 đồng. Xét cách tính lãi suất của ngân hàng tại các hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết và các quyết định áp dụng biểu lãi suất là phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của ngân hàng đề nghị phía bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn là hợp pháp. Do vậy cần buộc bị đơn có trách nhiệm trả nợ ngân hàng số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 19/8/2024 là 1.132.098.336 đồng theo yêu cầu của ngân hàng là hoàn toàn có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án xử lý tài sản đảm bảo trong trường hợp bị đơn không thanh toán nợ, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, HĐXX nhận thấy: Để đảm bảo cho khoản vay tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019, bị đơn đã ký thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu MAZDA 6 PREMIUM, màu xanh, biển kiểm soát 30G-015-12, số khung 43A6JC094181, số máy PY21190656 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 653677 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 25/10/2019 thuộc quyền sở hữu/ sử dụng của bị đơn tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 và đã đăng ký giao dịch bảo đảm số đơn đăng ký 1347257187 ngày 29/10/2019 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng. Theo Công văn số 752/CĐKGDBĐ-CTTT ngày 1/7/2024 của Cục Đ – Bộ Tư pháp và Công văn số 3084/CSGT-ĐKX ngày 27/6/2024 của Phòng C, Công an thành phố H thì nội dung thế chấp xe ô tô thuộc sở hữu của bị đơn tại ngân hàng là đúng và hợp lệ, cho đến thời điểm hiện tại chưa tiếp nhận thêm thủ tục đăng ký nào đối với xe ô tô thế chấp. Xét hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan có thẩm quyền, do đó hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên. Mặt khác căn cứ khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 thì “Tài sản thế chấp nêu tại khoản 1 Điều này bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của Khách hàng đối với V1 phát sinh từ Hợp đồng này và các hợp đồng, văn bản tín dụng khác ký giữa Khách hàng và V1 bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản liên quan”. Do đó HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019, Hợp đồng thẻ tín dụng số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 và Điều kiện giao dịch chung về cho vay và thế chấp xe ô tô của ngân hàng và quy định pháp luật.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án đã yêu cầu ngân hàng xuất trình chứng cứ về vị trí chiếc xe để Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Tuy nhiên phía ngân hàng không xuất trình được và có ý kiến ngân hàng không biết tình trạng của xe ô tô thế chấp thế nào, hiện xe ô tô thế chấp đang ở đâu, không được bị đơn thông báo có cho ai thuê hay mượn xe ô tô thế chấp không, không liên hệ được với bị đơn nên Toà án không thể tiến hành xem xét thẩm định tài sản thế chấp theo quy định. Căn cứ Mục 11 Phần III Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 3/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao như sau: “Trường hợp Tòa án xác định hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật trong quá trình ký kết, hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì việc không xác định được ô tô là tài sản thế chấp ở đâu tại thời điểm tranh chấp không làm vô hiệu hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp. Do đó, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì Tòa án tuyên phát mại tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015”. Do vậy, HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019.

[3] Đại diện theo ủy quyền của ngân hàng xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt chậm trả lãi theo quy định tại hợp đồng tín dụng. Xét thấy việc rút yêu cầu của ngân hàng là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của ngân hàng đã rút.

Đối với yêu cầu Toà án giải quyết: Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán khoản nợ các bị đơn vẫn phải tiếp tục trả nợ cho ngân hàng cho đến khi khoản nợ được tất toán nhận thấy đây là giai đoạn thi hành án dân sự, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên HĐXX không xét.

[4] Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội: Phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Điều 117; 274, 275, 280, 295, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 351, 400, 401 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị định 163/2006/NĐ - CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo và Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V (V1) đối với ông Nguyễn Thái Q về yêu cầu thanh toán khoản tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử (Hợp đồng thẻ tín dụng) số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019.

Buộc ông Nguyễn Thái Q phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V1) khoản nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử (Hợp đồng thẻ tín dụng) số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 tạm tính đến ngày 19/8/2024 là 1.132.098.336 đồng, trong đó số tiền nợ của Hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 là 1.047.636.347 đồng, gồm nợ gốc: 649.872. 777 đồng, nợ lãi trong hạn: 17.434.344 đồng và nợ lãi quá hạn: 380.329.266 đồng và số tiền nợ của Hợp đồng thẻ tín dụng số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 là 84.461.989 đồng, gồm nợ gốc: 29.292.563 đồng, nợ lãi: 55.169.426 đồng.

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Ngân hàng V (V1) buộc ông Nguyễn Thái Q phải chịu tiền phạt chậm trả lãi theo quy định tại hợp đồng tín dụng.

3. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Thái Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử (Hợp đồng thẻ tín dụng) số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019. Trường hợp nếu trong các hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP V (V2) thì lãi suất mà ông Q phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP V (V2) theo từng thời kỳ nhưng không trái quy định pháp luật.

4. Kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Thái Q không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nợ của Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử (Hợp đồng thẻ tín dụng) số 241-P-9817072 ngày 5/11/2019 thì Ngân hàng TMCP V (V1) có toàn quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là 01 xe ô tô nhãn hiệu MAZDA 6 PREMIUM, màu xanh, biển kiểm soát 30G-015-12, số khung 43A6JC094181, số máy PY21190656 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 653677 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 25/10/2019 thuộc quyền sở hữu/ sử dụng của ông Nguyễn Thái Q tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910241804834 ngày 29/10/2019, đăng ký giao dịch bảo đảm số đơn đăng ký 1347257187 ngày 29/10/2019 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng và quy định pháp luật.

5. Về án phí: Ông Nguyễn Thái Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 45.962.950 đồng. Hoàn trả Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền 17.600.000 đồng tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006382 ngày 11/4/2024.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi Nơi nhận:

  • - TANDTp Hà Nội;
  • - VKSND q. Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS q.Hoàn Kiếm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đặng Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66a/2024/DSST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hđ tín dụng

  • Số bản án: 66a/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng VP - Nguyễn Thái Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger