TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-8-2023 V/v: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quốc Hà
Các Hội thẩm nhân dân gồm có:
- Ông Lưu Văn Toan
- Ông Hoàng Tuyển
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Tiệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên tòa:
Ông Trịnh Văn Hai.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện EaH'leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 189/2023/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2023 về việc “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QÐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ng – Sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn 5, xã ER, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk – có đơn đề nghị vắng mặt. - Bị đơn: Anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn 5, xã ER, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt không có lý do lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ng và anh M chung sống với nhau từ năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường CS, thành phố CP, tỉnh Quảng Ninh. Anh chị chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, sau đó thì ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã không thể hàn gắn. Vì vậy, chị Ng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương Th, sinh ngày 31/01/2013. Nay ly hôn chị Ng có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh M vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của anh M. Đồng thời anh M không cung cấp, tài liệu chứng cứ gì.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng và cho chị Ng được ly hôn anh M và chấp nhận yêu cầu của chị Ng về việc nuôi dưỡng con chung đến khi đủ tuổi trưởng thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Việc Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Đức M về chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố CP, tỉnh Quảng Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do cả hai không tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét thấy, mâu thuẫn hiện nay của chị Ng, anh M chị là trầm trọng, hiện cả hai đã không còn sống chung với nhau, mục đích hôn nhân không đạt dược. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của chị Ng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương T, sinh ngày 31/01/2013. Xét yêu cầu của chị Ng và xét nguyện vọng của cháu T về việc mong muốn được ở với chị Ngu là có cơ sở nên cần chấp nhận. Các đương sự không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nên Tòa án không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 và khoản 3 Điều 51, 56, Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ng. Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Đức M.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phương T, sinh ngày 31/01/2013 cho chị Nguyễn Thị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành.
Anh Nguyễn Đức M có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét.
Về án phí: Chị Ng phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo, theo biên lai số AA/2021/0011401, ngày 05 tháng 6 năm 2023.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ đã ký Bùi Quốc Hà |
Bản án số 66/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 66/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Ng
