Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HS-ST

Ngày: 26-12- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Lâm Tới;
  2. Ông Châu Kim Ba.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2023/TLST- HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Văn L (Bốn G), sinh năm 1992, nơi cư trú: Tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha là Phan Văn C (chết), mẹ là Nguyễn Thị Á, sinh năm 1957; anh, em ruột: 05 người, bị cáo là người thứ tư; chưa có vợ, con;

- Tiền án:

  • + Ngày 29/04/2011, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 29/04/2013.
  • + Ngày 02/04/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 26/10/2014.
  • + Ngày 07/05/2015, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 06/06/2017.
  • + Ngày 04/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 27/04/2022.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 15/06/2023 cho đến nay.

Bị hại:

  1. Ông Lê Văn T, sinh năm 1998, nơi cư trú: ấp S, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
  2. Ông Trần Văn P, sinh năm 1988, nơi cư trú: tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
  3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974, nơi cư trú: tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Huỳnh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1991, nơi cư trú: ấp C, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
  2. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1985, nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
  3. Ông Lâm Văn H, sinh năm 1967, nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
  4. Ông Chau H1, sinh năm 1970, nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Bị cáo có mặt; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, từ ngày 26/05/2023 đến ngày 13/06/2023 Phan Văn L đã thực hiện 03 vụ “Trộm cắp tài sản” trên địa bàn phường T, thị xã T, tỉnh An Giang, cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 03 giờ ngày 26/05/2023, L điều khiển xe môtô biển số 67H3-6266 đi tìm tài sản lấy trộm, khi đến khu vực tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, L quan sát thấy trong rạp đám cưới có 01 thùng đen không khóa, bên trong có 01 Laptop và 02 đèn sân khấu hiệu BEAM 230 của anh Lê Văn T, không người trong giữ, nên L liền lấy trộm 01 cái Laptop và 02 đèn sân khấu trên. Lấy trộm xong, L mang Laptop vừa trộm được bán cho anh H2 Nguyễn Đình T1 được 400.000 đồng và tiêu xài hết, còn 02 cái đèn sân khấu Lưng mang đi cất giấu. Khi Công an mời làm việc, L thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của anh T và giao nộp lại 02 đèn sân khấu cho công an xử lý.

- Vụ thứ hai: Khoảng 03 giờ ngày 27/5/2023, L điều khiển xe mô tô biển số 67H3-6266 đi tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, L phát hiện trong rạp đám cưới có 01 đèn sân khấu hiệu LIGHT SKY của anh Trần Văn P đang để trên sân khấu, không người trông giữ, nên L vào lấy trộm 01 đèn sân khấu trên. Sau khi lấy trộm, L mang đèn sân khấu trên bán cho anh Trần Văn T2 với giá 1.000.000 đồng, L chưa nhận tiền. Khi công an mời làm việc, anh T2 đã giao nộp lại đèn sâu khấu mua của L cho công an xử lý.

- Vụ thứ ba: Khoảng 03 giờ ngày 13/6/2023, L đi tìm tài sản lấy trộm, khi đến khu vực tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, L phát hiện có 04 máy gặt đập liên hợp của anh Nguyễn Văn S để cặp lề đường, không người trông giữ, nên L đi đến lấy trộm 03 cục tạ sắt trong 01 máy gặt đập liên hợp của anh S. Lấy trộm xong, L mang 03 cục tạ sắt đến vựa phế liệu (không nhớ tên và địa chỉ) bán được 660.000 đồng và tiêu xài hết.

Kết luận định giá tài sản số 1065, 1066, 1067 cùng ngày 21/6/2023 và số 1070 ngày 22/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, xác định:

  • - 01 Laptop, hiệu Acer, Aspire 7738/7738G series, Model: MS2261, màu sơn: Xanh – đen, màn hình 17,3 inch, được định giá 3.000.000 đồng;
  • - 01 đèn sân khấu, nhãn hiệu BEAM 230, màu sơn: Đen, hai bên vai đèn màu đen, được định giá 3.000.000 đồng;
  • - 01 đèn sân khấu, nhãn hiệu BEAM 230, màu sơn: Đen, hai bên vai đèn màu đen, được định giá 3.000.000 đồng.
  • - 01 đèn sân khấu, nhãn hiệu LIGHT SKY 230-B, màu sơn: Đen, hai bên vai đèn màu đen, được định giá 4.000.000 đồng.
  • - 03 cục sắt hình chữ nhật dùng để thăng bằng máy gặt đập liên hợp, mỗi cục sắt có trọng lượng 30kg/cục, được định giá 7.500.000 đồng.

Cáo trạng số 66/CT-VKSTB-HS ngày 28/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Phan Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định theo điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận, do muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của các bị hại như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

Đối với xe mô tô biển số 67H3-6266, bị cáo cho biết xe là của bị cáo được anh ruột của bị cáo mua cho bị cáo để làm phương tiện đi lại.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm chứng tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với các tình tiết định khung quy định tại b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Về hình phạt chính, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù.

Về hình phạt bổ sung, bị cáo không có nghề nghiệp, đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nào khác nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng, đề nghị căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (gọi chung là Bộ luật Tố tụng Hình sự), tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe mô tô biển số 67H3-6266 do đây là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện tội phạm.

Đối với anh Huỳnh Nguyễn Đình T1, Trần Văn T2 khi nhận mua tài sản, không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

Đối với lời khai của ông Nguyễn Văn S về việc cho rằng bị cáo có lấy trộm 02 bình ắc quy 120V, 01 Dynamo sạc bình và 01 số đồ dùng trong máy cắt, ngoài lời khai của ông S không còn chứng khác để chứng minh nên không có căn cứ quy kết trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng,

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an nhân dân thị xã T; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
  2. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên không đề cập xem xét.
  3. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt. Xét, những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về nội dung,

  1. Hành vi phạm tội:

Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cùng tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, diễn biến sự việc như nội dung vụ án thể hiện.

Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo về các hành vi đã thực hiện còn phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ và trả lại cho các chủ sở hữu.

Từ đó, có căn cứ xác định từ ngày 26/5/2023 đến ngày 13/6/2023, bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của các bị hại trong quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản gồm:

  • - 01 Laptop và 02 đèn sân khấu hiệu BEAM 230 của anh Lê Văn T;
  • - 01 đèn sân khấu hiệu LIGHT SKY của anh Trần Văn P;
  • - 03 cục tạ sắt trong 01 máy gặt đập liên hợp của anh Nguyễn Văn S.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt trong 03 lần thực hiện tội phạm được xác định là 20.500.000 đồng theo các kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T.

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân; xâm phạm quan hệ về sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.

Bị cáo có 04 tiền án về tội trộm cắp tài sản, với lần phạm tội này, trong khoảng thời gian từ ngày 26/5/2023 đến ngày 13/6/2023 bị cáo 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng, nên Cáo trạng số 66/CT-VKSTB.HS ngày 28/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với các tình tiết định khung cấu thành tăng nặng là có tính chất chuyên nghiệp và tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà có mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

  1. Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; mỗi lần thực hiện, tài sản chiếm đoạt đều trị giá trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xem xét tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, chủ động giao nộp lại 02 đèn sân khấu đã lấy trộm để trả lại cho anh T nên có xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự trong quyết định hình phạt đối với bị cáo như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

  1. Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện về kinh tế, xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.

  1. Về xử lý vật chứng:

Xe mô tô biển số 67H3-6266, giấy đăng ký xe mang tên Chau H1, quá trình điều tra ông Chau H1 có lời khai cho biết xe đã bán cho người khác, ông không còn là chủ sở hữu. Tại phiên tòa, bị cáo xác định xe là của bị cáo được anh ruột mua cho làm phương tiện đi lại, xét tịch thu sung vào ngân sách nhà nước do đây là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện tội phạm.

  1. Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập xem xét trong vụ án.

  1. Vấn đề khác:

Anh Huỳnh Nguyễn Đình T1, Trần Văn T2 khi nhận mua tài sản, không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã T không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Đối với lời khai của ông Nguyễn Văn S về việc cho rằng bị cáo có lấy trộm 02 bình ắc quy 120V, 01 Dynamo sạc bình và 01 số đồ dùng trong máy cắt. Thấy rằng, ngoài lời khai của ông S không có nguồn chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi này là phù hợp.

  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Phan Văn L (Bốn Giờ) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn L (Bốn G): 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: 15/06/2023 (mười lăm, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 67H3-6266, số khung: Không; số máy: Không; màu sơn: nâu (đã qua sử dụng).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30 tháng 11 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Phan Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND thị xã Tịnh Biên (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 66/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger