|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày 29-11-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Phương;
- Bà Trần Thị Bích Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Tiến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2023/TLST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2144/2023/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Phạm Tấn L, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1992, tại huyện P, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn X, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm D và bà Nguyễn Thị H; vợ: Đặng Thị Tuyết S, con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2013 và nhỏ nhất sinh năm 2020, tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 31/3/2023 đến nay có mặt tại phiên Toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- -Đặng Thị Tuyết S, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn X, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Có mặt).
Người làm chứng:
- Nguyễn Quốc D1, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn X xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).
- Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn X xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).
- Phạm Minh T, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn X xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 30/3/2023, bị cáo Phạm Tấn L, thông qua các mối quan hệ ngoài xã hội có được Facebook của người bán ma túy, bị cáo gọi điện thoại mesenger Facbook của người tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở xã M, huyện P đặt mua 01 gói ma túy Methamphetamine với số tiền 1.500.000 đồng, thì H1 đồng ý và nhắn tin cho bị cáo số tài khoản ngân hàng để bị cáo chuyển tiền thì bị cáo nhờ một người bạn (không nhớ tên cụ thể) chuyển cho H1 số tiền 1.500.000 đồng để trả nợ rồi bị cáo đưa lại số tiền trên cho người chuyển. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày (30/3/2023), người tên H1 gọi điện thoại masserger Facebook cho bị cáo nói đi đến chỗ dải phân cách giữa đường bê tông phía sau nhà hàng T3 ở thôn X, xã M, huyện P để lấy ma túy bỏ trong vỏ một gói thuốc lá ở gần thùng rác. Theo chỉ dẫn, bị cáo đi đến vị trí nói trên lấy và mở ra thấy bên trong có 01 gói nilon nẹp miệng không màu chứa ma túy thì đem về nhà dùng cân tiểu li cân gói ma túy (nhưng không nhớ rõ là bao nhiêu gam) rồi bị cáo lấy một ít ma túy đổ vào dụng cụ một mình sử dụng. Đến sáng ngày 31/3/2023, bị cáo tiếp tục lấy một ít ma túy mua của H1 ra để sử dụng, còn lại bị cáo phân chia nhỏ ra thành 04 gói nhỏ (không nhớ cụ thể) bọc trong túi quần để sử dụng. Phần số ma túy trong túi ni lon còn lại không phân chia bị cáo cất giấu ở phòng bếp. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/3/2023, tổ công tác Công an huyện P phối hợp với Công an xã M tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà bị cáo ở thôn X, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, thấy tổ công tác bị cáo bỏ chạy khoảng 50mét thì bị tổ công tác bắt giữ, trong người của bị cáo có 04 gói ma túy hàn kín bên trong có các hạt tinh thể không màu nghi là ma túy tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.
Qua điều tra, bị cáo còn khai nhận: Trước ngày 31/3/2023 khoảng 08 ngày, bị cáo gọi điện thoại mesenger F cho người tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) ở thị xã L, tỉnh Bình Thuận để hỏi mua ma túy loại Methamphetamine với số tiền 5.000.000 đồng thì T1 đồng ý và nhắn tin số tài khoản ngân hàng cho bị cáo để chuyển tiền thì bị cáo nhờ một người bạn (không nhớ họ tên cụ thể) đến các điểm nhận chuyển tiền dịch vụ ở M chuyển cho T1 số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận, đã nhận chuyển giao tiền xong, người tên T1 thông báo cho bị cáo gói nilon có chứa ma túy bỏ vào bên trong một thùng xốp, bên ngoài ghi tên và số điện thoại của bị cáo rồi gửi cho xe khách chạy tuyến N- B về đến ngã ba thị trấn B sẽ bỏ thùng xốp xuống và gọi bị cáo đến nhận. Sau khi nhận được ma túy về, bị cáo mở ra thấy bên trong có 01 gói nilon nẹp miệng không màu, ngang miệng có viền màu đỏ, bị cáo dùng cân tiểu li cân gói ma túy (nhưng không nhớ rõ bao nhiêu gam) rồi bị cáo phân chia ra thành 04 gói nhỏ (không rõ bao nhiêu) để dễ sử dụng số còn lại để nguyên không phân chia đồng thời bị cáo lấy một ít ma túy ra để sử dụng, sau khi sử dụng thấy ma túy có chất lượng kém nên bị cáo đem 04 gói ma túy cất giấu ở dưới gầm giường ở phòng ngủ, số ma túy còn lại trong gói nilon bị cáo để nguyên và cất giấu trong hộp để tại phòng bếp khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Qua khám xét tổ công tác lập biên bản niêm phong để xử lý.
Ngoài ra, đối với điện thoại bị cáo dùng để sử dụng liên lạc với người tên T1, tên H1 để mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được.
Sau khi bị bắt, qua xét nghiệm bị cáo dương tính với chất ma tuý.
Ngày 04/4/2023, Phòng K công an tỉnh B có văn bản kết luận giám định số 156/KL-KTHS kết luận như sau: Các hạt tinh thể (ký hiệu A) đựng trong 04 gói nilon cùng kích thước (3x1)cm, gửi giám định đều là ma tuý, có tổng khối lượng 0,6258 gam là (loại): Methamphetamine.
Ngày 05/4/2023, Phòng K công an tỉnh B có văn bản kết luận giám định số 157/KL-KTHS kết luận như sau: Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A1) đựng bên trong 03 gói nilon cùng kích thước (2,5 x1,3)cm và các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A2) đựng bên trong 01 gói ni lon, kích thước (4x1,3)cm gửi giám định đêu là ma túy, có tổng khối lượng 0,7221 gam là (loại): Methamphetamine.
Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A3) đựng bên trong 01 gói nilon nẹp miệng, có viền ngang miệng màu đỏ, kích thước (8,5x5)cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 7,4402 gam là (loại): Methamphetamine.
Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A4) đựng bên trong 01 gói nilon nẹp miệng, kích thước (8,5x6)cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,5719 gam là (loại): Methamphetamine.
Tổng khối lượng ma tuý thu giữ của bị cáo Phạm Tấn L là 13,36 gam loại Methamphetamine.
Ngày 12/5/2023, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có bản kết luận giám định số 723/KL-KTHS kết luận: 01 vật giống súng bằng kim loại gửi giám định là súng Ekol bắn đạn cao su, đạn hơi cay, đạn nổ (uy hiếp) cỡ (9 x 22)mm, hiện tại khẩu súng còn sử dụng bắn được và thuộc công cụ hỗ trợ; 02 khối hình trụ tròn bằng kim loại gửi giám định là đạn cao su cỡ (9x22)mm; hiện tại còn sử dụng được và thuộc công cụ hỗ trợ.
Tại bản cáo trạng số: 64/CT-VKS-PM ngày 02/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Phạm Tấn L, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b,g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại Toà hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo; nêu luận tội và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, nên đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b,g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Tấn L từ 06 – 07 năm tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- -Về vật chứng vụ án đề nghị: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu huỷ:
- - 07 ống hút nhựa màu trắng dài 20cm, đường kính 0,7cm.
- - 05 gói nilon không màu, kích thước (14 x 5,5)cm hàn kín một đầu.
- - 01 bậc lửa gas màu trắng dài 08cm.
- - 01 bậc lửa gas màu tím xanh dài 08cm.
- - 01 đầu khò lửa (loại dùng gắn bình ga mini) màu trắng, dài 18cm, hai bên có chữ "STS 920".
- - 01 chai nhựa không màu cao 14cm, đường kính đáy 2,5cm; nắp chai màu trắng đường kính 2cm, có đục 02 lỗ tròn, trong đó một lỗ có gắn 01 ống thuỷ tinh hình móc câu dài 12cm, đường kính 0,5cm, phần đầu móc câu phình to phình to (bị bể trong quá trình khám xét), đầu còn lại có gắn ống nhựa màu vàng dài 03cm.
- - 01 bình gas mini nhãn hiệu NaMiLux màu vàng - xanh, cao 18,5cm.
- - 01 cân tiểu li màu xanh kích thước (18 x 6,5 x 02)cm.
- - 01 hộp hình chữ nhật có kích thước (12,5 x2,5x2)cm, xung quanh dán băng keo đen.
- - 01 hộp bọc vải màu đen hình chữ nhật kích thước (27 x 14,5 x 5)cm bên trong có chứa: 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, trên kéo có chữ STAINLESS STEEI; 01 ống hút nhựa không màu dài 17,5cm, đường kính 0,8cm, một đầu vót nhọn; 01 hộp bằng kim loại kích thước (6,5 x10)cm màu xanh trắng mặt bên ngoài có nhiều chữ tiếng nước ngoài; 01 ống hút nhựa không màu dài 07cm, đường kính 0,6cm, một đầu hàn kín, một đầu vót nhọn.
- - 01 bì thư dán kín, niêm phong bằng hình dấu tròn Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng (02 hình dấu), chữ kỹ, chữ viết họ, tên Phạm Thành N1, Mạc Văn N2, Phạm Kim H2.
- Vỏ, bao bì thư đựng mẫu vật và 0,5631 gam mẫu A còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán kín niêm phong: dấu tròn “Phòng K- Công an tỉnh B", chữ ký bên giao và bên nhận).
- Vỏ, bao bì thư đựng mẫu vật 0,3330 gam mẫu A1; 0,1540 gam mẫu A2; 7,0352 gam mẫu A3 và 3,9934 gam mẫu A4 còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán kín niêm phong: dấu tròn “Phòng K- Công an tỉnh B”, chữ ký bên giao và bên nhận.
Đây là những vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vật không có giá trị.
Lời nói sau cùng của bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P; Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; bản kết luận giám định chất ma tuý. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/3/2023, tổ công tác Công an huyện P phối hợp với Công an xã M kiểm tra hành chính tại nhà của bị cáo Phạm Tấn L ở thôn X, xã M, huyện P phát hiện bắt quả tang và thu giữ trên người bị cáo 04 gói ma tuý 0,6258 gam loại Methamphetamine, qua khám xét tại phòng bếp của nhà bị cáo thu giữ 4,5719 gam loại Methamphetamine, (tổng cộng 5,1977 gam, đây là số ma túy mà bị cáo mua của người tên H1 không rõ nhân thân lai lịch, trong quá trình điều tra, thì bị cáo tự thú khai nhận, trước đó khoảng 08 ngày bị cáo còn mua ma túy một người tên T1 ở Bình Thuận, không rõ nhân thân lai lịch hiện đang cất giấu tại phòng ngủ và phòng bếp nhà bị cáo, qua khám xét cơ quan cơ quan điều tra thu giữ khối ma túy bị cáo mua của T1 là 8,1623gam Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo L 13,36 gam loại Methamphetamine.
- Kết quả xét nghiệm nước tiểu: Bị cáo Phạm Tấn L dương tính với chất ma tuý.
Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy, nên hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 64/CT-VKS-PM ngày 02/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, g, khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, ngoài ra bị cáo còn tự thú khai nhận với cơ quan điều tra về lần mua ma túy của tên T1 trước ngày 30/3/2023 (trước khoảng 08 ngày) và chỉ nơi cất giấu với khối lượng ma túy 8,1623gam Methamphetamine, theo công văn số 81/2002/TANDTC, ngày 10/6/2002, thì tình tiết tự thú “.....Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình Điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội..” nên bị cáo cũng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự thú. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như trên, lẽ ra xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc nhưng xét thấy sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và tự thú khai báo về hành vi phạm tội trước đó mà cơ quan điều tra chưa phát hiện. Do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và xét xử bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt nhằm mục đích giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, cũng như khuyến khích người phạm tội, tự nguyện khai báo tự thú về hành vi phạm tội của mình để được hưởng sự khoan hồng pháp luật.
[6] Xét về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - 07 ống hút nhựa màu trắng dài 20cm, đường kính 0,7cm.
- - 05 gói nilon không màu, kích thước (14 x 5,5)cm hàn kín một đầu.
- - 01 bậc lửa gas màu trắng dài 08cm.
- - 01 bậc lửa gas màu tím xanh dài 08cm.
- - 01 đầu khò lửa (loại dùng gắn bình ga mini) màu trắng, dài 18cm, hai bên có chữ “STS 920".
- - 01 chai nhựa không màu cao 14cm, đường kính đáy 2,5cm; nắp chai màu trắng đường kính 2cm, có đục 02 lỗ tròn, trong đó một lỗ có gắn 01 ống thuỷ tinh hình móc câu dài 12cm, đường kính 0,5cm, phần đầu móc câu phình to phình to (bị bể trong quá trình khám xét), đầu còn lại có gắn ống nhựa màu vàng dài 03cm.
- - 01 bình gas mini nhãn hiệu NaMiLux màu vàng - xanh, cao 18,5cm.
- - 01 cân tiểu li màu xanh kích thước (18 x 6,5 x 02)cm.
- - 01 hộp hình chữ nhật có kích thước (12,5 x2,5x2)cm, xung quanh dán băng keo đen.
- - 01 hộp bọc vải màu đen hình chữ nhật kích thước (27 x 14,5 x 5)cm bên trong có chứa: 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, trên kéo có chữ STAINLESS STEEI; 01 ống hút nhựa không màu dài 17,5cm, đường kính 0,8cm, một đầu vót nhọn; 01 hộp bằng kim loại kích thước (6,5 x10)cm màu xanh trắng mặt bên ngoài có nhiều chữ tiếng nước ngoài; 01 ống hút nhựa không màu dài 07cm, đường kính 0,6cm, một đầu hàn kín, một đầu vót nhọn.
- - 01 bì thư dán kín, niêm phong bằng hình dấu tròn Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng (02 hình dấu), chữ kỹ, chữ viết họ, tên Phạm Thành N1, Mạc Văn N2, Phạm Kim H2.
- - Vỏ, bao bì thư đựng mẫu vật và 0,5631 gam mẫu A còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán kín niêm phong: dấu tròn “Phòng K- Công an tỉnh B", chữ ký bên giao và bên nhận).
- - Vỏ, bao bì thư đựng mẫu vật 0,3330 gam mẫu A1; 0,1540 gam mẫu A2; 7,0352 gam mẫu A3 và 3,9934 gam mẫu A4 còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán kín niêm phong: dấu tròn “Phòng K- Công an tỉnh B”, chữ ký bên giao và bên nhận.
Đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội và những vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vật không có giá trị, nên tịch thu, tiêu huỷ theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Đối với các vấn đề khác:
[8.1] Đối với người bán ma túy tên T1 và tên H1 do không xác định được nhân thân, lai lịch quá trình điều tra vụ án cũng không có căn cứ nào khác để xác định được những người bán ma tuý nói trên nên không có căn cứ để xem xét xử lý trong vụ án này.
[8.2]Đối với Đặng Thị Tuyết S (vợ bị cáo) cùng chủ sở hữu quản lý sử dụng ngôi nhà bị cáo dùng để cất giấu ma túy. Tuy nhiên, chị S không biết bị cáo L cất giấu ma túy trong nhà nên không xử lý hình sự đối với chị S là phù hợp.
[8.3] Bị cáo còn có hành vi tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên ngày 23/10/2023 Công an huyện P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo là có căn cứ.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Về tội danh, điều luật áp dụng, là phù hợp với nhận định Hội đồng xét xử, tuy nhiên mức đề nghị hình phạt có phần nghiêm khắc và không cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm r, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự (tình tiết người phạm tội tự thú) là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ điểm b, g khoản 2 Điều 249, điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
-Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2, Điều 106; Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Tấn L 05(Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 31 tháng 3 năm 2023).
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu huỷ:
- - 07 ống hút nhựa màu trắng dài 20cm, đường kính 0,7cm.
- - 05 gói nilon không màu, kích thước (14 x 5,5)cm hàn kín một đầu.
- - 01 bậc lửa gas màu trắng dài 08cm.
- - 01 bậc lửa gas màu tím xanh dài 08cm.
- - 01 đầu khò lửa (loại dùng gắn bình ga mini) màu trắng, dài 18cm, hai bên có chữ “STS 920".
- - 01 chai nhựa không màu cao 14cm, đường kính đáy 2,5cm; nắp chai màu trắng đường kính 2cm, có đục 02 lỗ tròn, trong đó một lỗ có gắn 01 ống thuỷ tinh hình móc câu dài 12cm, đường kính 0,5cm, phần đầu móc câu phình to phình to (bị bể trong quá trình khám xét), đầu còn lại có gắn ống nhựa màu vàng dài 03cm.
- - 01 bình gas mini nhãn hiệu NaMiLux màu vàng - xanh, cao 18,5cm.
- - 01 cân tiểu li màu xanh kích thước (18 x 6,5 x 02)cm.
- - 01 hộp hình chữ nhật có kích thước (12,5 x2,5x2)cm, xung quanh dán băng keo đen.
- - 01 hộp bọc vải màu đen hình chữ nhật kích thước (27 x 14,5 x 5)cm bên trong có chứa: 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, trên kéo có chữ STAINLESS STEEI; 01 ống hút nhựa không màu dài 17,5cm, đường kính 0,8cm, một đầu vót nhọn; 01 hộp bằng kim loại kích thước (6,5 x10)cm màu xanh trắng mặt bên ngoài có nhiều chữ tiếng nước ngoài; 01 ống hút nhựa không màu dài 07cm, đường kính 0,6cm, một đầu hàn kín, một đầu vót nhọn.
- - 01 bì thư dán kín, niêm phong bằng hình dấu tròn Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng (02 hình dấu), chữ kỹ, chữ viết họ, tên Phạm Thành N1, Mạc Văn N2, Phạm Kim H2.
- - Vỏ, bao bì thư đựng mẫu vật và 0,5631 gam mẫu A còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán kín niêm phong: dấu tròn “Phòng K- Công an tỉnh B", chữ ký bên giao và bên nhận).
- - Vỏ, bao bì thư đựng mẫu vật 0,3330 gam mẫu A1; 0,1540 gam mẫu A2; 7,0352 gam mẫu A3 và 3,9934 gam mẫu A4 còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán kín niêm phong: dấu tròn “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký bên giao và bên nhận.
Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Tấn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung ngân sách nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo Phạm Tấn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đặng Thị Tuyết S có mặt tại Toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/11/2023).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Tân |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ - THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Trần Thị Bích Thuỷ |
Nguyễn Thành Phương |
Nguyễn Thành Tân |
Bản án số 66/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 66/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Tấn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
