|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 66/2022/HS-ST Ngày 24/6/2022 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Vinh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thế Dũng và bà Lê Thị Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2022/TLST- HS ngày 16 tháng 5 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST- HS ngày 03/6/2022 và quyết định Hoãn phiên toà số 37/2022/HSST-QĐ ngày 17/6/2022, đối với bị cáo:
Vũ Trung K, sinh ngày 08/10/1991 tại Tuyên Quang. Nơi cư trú: Tổ dân phố 09, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Ngọc C và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Mai Thu H (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Ngô Trung D, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi tạm trú: Tổ dân phố 8, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (có đơn xin xử vắng mặt).
- Anh Lê Văn H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có đơn xin xử vắng mặt).
- Những người làm chứng:
- Anh Lê Anh T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Xóm 13, xã T1, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (có đơn xin xử vắng mặt).
- Anh Phạm Văn Th, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ dân phố 4, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 09/2021 đến tháng 11/2021, bị cáo Vũ Trung K đã nhiều lần cho người khác vay tiền với lãi suất cao từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/01 năm đến 182,5%/ 01 năm, gấp từ trên 05 lần đến trên 09 lần so với mức lãi suất cao nhất (20%/ 01 năm) quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, mục đích để thu lợi nhuận.
Về hình thức cho vay, người vay sẽ phải trả cho bị cáo một khoản tiền lãi cố định theo ngày, một tháng tính tròn là 30 ngày, nếu tháng nào 31 thì không tính lãi ngày 31, cho đến khi trả được hết số tiền gốc đã vay. Người vay tiền phải viết giấy bán tài sản (như giấy bán xe ôtô và giao xe cùng giấy chứng nhận đăng ký và Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật) cho bị cáo. Sau khi nhận được xe, bị cáo đưa cho người vay một khoản tiền cụ thể, không ghi lãi suất. Khi người vay trả hết số tiền gốc và lãi, bị cáo viết giấy biên nhận tiền và trả lại xe ôtô cùng các giấy tờ cho người vay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự...
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trung K tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Kết luận giám định, tài liệu, vật chứng thu giữ, sao kê tài khoản tại ngân hàng, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan...
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trung K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Xử phạt bị cáo Vũ Trung K 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm a, b khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu của bị cáo Vũ Trung K số tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội là 470.000.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước. Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền lãi bị cáo Vũ Trung K thu được của anh Ngô Trung D và anh Lê Văn H...
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Vũ Trung K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thế Dũng – Lê Thị Thảo |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Tuấn Vinh |
Bản án số 66/2022/HS-ST ngày 24/06/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 66/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 12 năm 2021, tại địa bàn thành phố T, tỉnh Tuyên Quang bị cáo Vũ Trung K đã cho anh Ngô Trung D và anh Lê Văn H vay tiền với lãi suất cao vượt quá từ trên 05 lần đến trên 07 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự là 20%/năm), cụ thể từ 3000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/01 năm đến 182,5%/01 năm, với tổng số tiền cho vay là 470.000.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng); tổng số tiền lãi thu được là 65.700.000 đồng (trong đó tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự là 10.383.562 đồng, tiền thu lãi bất chính là 55.316.438 đồng) và số tiền phí bất hợp pháp là 5.000.000 đồng.
