Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 66/2022/DS-PT
Ngày: 31/03/2022
V/v tranh chấp: “Quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Tuyết Linh
Bà Trần Thị Kim Em

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Lê Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Đào Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2022/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2022 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 215/2021/DS-ST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Hồ Phong N, sinh năm 1965; (có mặt)
    Địa chỉ: Ấp C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
    Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Văn D, sinh năm 1957; (có mặt)
    Địa chỉ: Đường L, Tổ X, Khu phố H, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
    Theo văn bản ủy quyền ngày 03/4/2017.
  • Bị đơn: Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1965; (có mặt)
    Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân xã H;
      Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
      Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc T – Chủ tịch.
      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tấn K – Công chức địa chính.
      Theo văn bản ủy quyền ngày 20/4/2021. (xin vắng mặt)
    2. Hồ Phong C, sinh năm 1965; (vắng mặt)
    3. Hồ Phạm Thanh D1, sinh năm 1997; (có mặt)
    4. Hồ Phạm Kim N1, sinh năm 1986; (vắng mặt)
      Cùng địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
    5. Hồ Phạm Thanh N2, sinh năm 1987; (vắng mặt)
      Địa chỉ: Số 217/6/2 Nguyễn Văn Quá, phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người kháng cáo: Nguyên đơn – Hồ Phong N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm; Nguyên đơn – ông Hồ Phong N, có người đại diện theo ủy quyền – ông Nguyễn Văn D trình bày:

Ông N đứng chủ quyền sử dụng phần đất thửa 1130 tờ bản đồ số 2 diện tích 3.415m2 tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Phần đất này có vị trí nằm ở phía trong bao bọc bởi kênh và các thửa đất liền kề cho nên khi ông N được cha mẹ phân chia đất thì có phân chia cho ông được quyền quản lý sử dụng lối đi từ phần đất của ông ra đến lộ diện tích có chiều ngang 03m, chiều dài 79m. Lối đi này giáp ranh với 02 phần đất:

  • Phần đất của Hồ Việt T diện tích ngang 03m dài 11m, nguồn gốc đất do cha mẹ chia cho Hồ Việt T.
  • Phần đất của Hồ Phong C diện tích ngang 3m dài 68m và lối đi này là của cá nhân ông N và gia đình ông sử dụng lối đi này ổn định trên 30 năm.

Đến năm 2016 ông N làm thủ tục để xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có cả phần lối đi diện tích 264,6m2 thì bà Phạm Thị Hồng H phát sinh tranh chấp đối với lối đi này, bà H cho rằng diện tích 264,6m2 là thuộc quyền sử dụng đất của bà H. Vụ án được Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết đến ngày 07/3/2017 thì Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do bà H rút đơn khởi kiện.

Ngày 14/3/2017 tôi hợp đồng với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai đo đạc hiện trạng thực tế của lối đi để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lối đi này thì bà Phạm Thị Hồng H tranh chấp không cho cán bộ đo đạc và cho rằng phần đất này thuộc quyền sử dụng đất của bà H, trong khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông C và bà H thì không có phần diện tích 264,6m2 của lối đi.

Nay ông N yêu cầu công nhận phần diện tích 264,6m2 thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông. Yêu cầu bà H chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất của ông.

Bị đơn – bà Phạm Thị Hồng H trình bày:

Bà và ông C có quyền sử dụng đất diện tích 3.615m2 thửa 1089 tờ bản đồ số 2 đất tại ấp H, xã H, huyện C. Nguồn gốc đất là của cha mẹ chồng là cụ Hồ Văn Quí và cụ Trần Thị Đổng chia đất cho các con. Khi chia đất thì cụ Q và cụ Đ có chia cho ông C phần diện tích đất 264,6m2 lối đi mà ông N đang tranh chấp. Ông C và bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này. Đến năm 2011 đo đạc để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đoàn đo đạc có trừ phần diện tích lối đi này ra khỏi phần đất của ông C và bà. Sau đó bà và ông C được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 119 tờ bản đồ số 19 với diện tích 2.609,3m2. Bà và ông C sử dụng phần đất này và không có khiếu nại. Tuy nhiên phần đất ông N tranh chấp vẫn là lối đi chung, bà không đồng ý để ông N đăng ký đứng tên đối với phần đất diện tích 264,6m2 này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Hồ Phong C trình bày:

Ông được đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 2.609,3m2 thửa 119 tờ bản đồ số 19. Đối với diện tích 264,6m2 có nguồn gốc của cha mẹ ông chia cho vợ chồng ông nhưng sau khi cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần đất này nằm ngoài giấy đất nhưng ông và bà H vẫn quản lý sử dụng phần đất này. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông N thì ông không đồng ý vì diện tích đất 264,6m2 này là của gia đình ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Hồ Phạm Thanh D1, chị Hồ Phạm Kim N1, chị Hồ Phạm Thanh N2 trình bày:

Ông C và bà H là cha, mẹ của các anh, chị. Ông C và bà H được đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 2.609,3m2 thửa 119 tờ bản đồ số 19. Đối với diện tích 264,6m2 có nguồn gốc của cụ Q chia cho ông C và bà H nhưng sau khi cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần đất này nằm ngoài giấy đất nhưng ông C và bà H vẫn quản lý sử dụng phần đất này. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông N thì các anh chị không đồng ý vì diện tích đất 264,6m2 này là của gia đình ông C và bà H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ủy ban nhân dân xã H, có người đại diện theo ủy quyền – anh Trần Tấn K trình bày:

Căn cứ và tờ bản đồ số 19 của dự án Vlap thì phần đất diện tích 264,6m2 là đường đi công cộng do Ủy ban nhân dân xã H quản lý. Thửa 1089, tờ bản đồ 02 diện tích 3.615m2 là của ông Hồ Phong C. Phía Tây của thửa đất không thể hiện rõ là giáp kênh hay giáp đường (do bản đồ tỷ lệ 1/5000). Đến khi có dự án Vlap đo đạc cấp đổi lại thì ông Hồ Phong C đã đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa 119 tờ bản đồ số 19. Căn cứ vào bản đồ dự án Vlap lưu tại Ủy ban nhân dân xã H thì phía Tây của thửa 119 là giáp đường đan. Nay Ủy ban nhân dân xã H không đồng ý với yêu cầu được công nhận phần đất diện tích 264,4m2 là của ông N.

Bản án dân sự sơ thẩm số 215/2021/DS-ST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ Điều 249 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Phong N đối với bà Phạm Thị Hồng H về việc yêu cầu xác định phần đất diện tích 264,6m2 tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang thuộc quyền sử dụng của ông N.

Ngày 22/11/2021, nguyên đơn ông Hồ Phong N có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Quyền sử dụng đất” là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện Ông Hồ Phong N và ông Hồ Phong C (chồng của bị đơn Phạm Thị Hồng H) là anh em ruột, cùng là con của cụ Hồ Văn Q và Trần Thị Đ. Ông N được cha mẹ cho phần đất tại thửa đất số 1130, diện tích 3.415m2. Ông C được cha mẹ cho phần đất tại thửa đất số 1089, diện tích 3.615m2, 02 thửa đất liền kề tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Cả hai phần đất này đều được ông N, ông C kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Hồ Phong N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ông N và ông C là anh em ruột có 02 thửa đất liền kề nhau (thửa 1130 và thửa 1089) nguồn gốc 02 thửa đất này được cha mẹ tặng cho. Phần đất tranh chấp hiện tại là một lối đi có diện tích 264,6m2 tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Cả hai bên đương sự cùng trình bày thống nhất nguồn gốc phần đất này của cha mẹ để lại. Ông N cho rằng ông được cha mẹ cho để làm lối đi riêng. Bà H thì cho rằng phần diện tích đất tranh chấp hiện nay là đường đi công cộng không nên không đồng ý công nhận cho ông N.

Căn cứ vào chứng cứ thu thập có trong hồ sơ thì thấy rằng; Hồ sơ trích lục địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tiền Giang cung cấp, tại “Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” ngày 15/7/1997 thì ông N đăng ký đối với phần đất thửa 1130 với diện tích 3.415m2 đất vườn. Ngày 05/9/1997, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông thửa 1130 cũng với diện tích 3.415m2 là phù hợp với việc đăng ký của ông. Phần đất lối đi không thuộc thửa 1130. Do đó, lời trình bày của ông là không có cơ sở.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 249 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Hồ Phong N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 215/2021/DS-ST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Phong N đối với bà Phạm Thị Hồng H về việc yêu cầu xác định phần đất diện tích 264,6m2 tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang thuộc quyền sử dụng của ông N.
  3. Về án phí: Ông Hồ Phong N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, cộng chung là 600.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu số 35256 ngày 11 tháng 5 năm 2017 và số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0005192 ngày 22 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang xem như thi hành xong.
  4. Về chi phí tố tụng: Ông Hồ Phong N phải chịu tiền chi phí tố tụng là 3.100.000 đồng và đã nộp xong.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tiền Giang;
- TAND huyện C, TG;
- CCTHADS huyện C, TG;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trần Văn Đạt
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2022/DS-PT ngày 31/03/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 66/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/03/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Phong Nh khởi kiện Phạm Thị Hồng H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger