|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 65b/2023/DS-ST
Ngày: 20 – 10 – 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Chí Vương
- 2. Ông Trần Trọng Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Khải Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 70/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54B/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 50/QĐST-HPT ngày 23/9/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Nguyễn Huy H – sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: anh Trần Anh V – sinh năm 1987.(vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ F ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11/4/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa nguyên đơn anh Nguyễn Huy H đã trình bày:
Ngày 07/10/2022 anh Trần Anh V có cam kết chuyển nhượng cho anh một phần thửa đất với diện tích 10 x 10 x 100m nằm trong thửa đất số 95, tờ bản đồ 12, 4.453m², tọa lạc ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước, đất đứng tên hộ bà Dương Thị P. Với giá tiền là 350.000.000 đ (ba trăm năm mươi triệu đồng). Qua đó, hai bên lập hợp đồng đặt cọc và anh H đã đặt cọc trước cho anh V số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), thời hạn để các bên ra ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 2 tháng, hạn cuối là 07/12/2022. Hai bên có lập Hợp đồng đặt cọc và có cam kết nếu bên anh V không thực hiện theo đúng hợp đồng thì phải bồi thường gấp 2 lần số tiền nhận cọc. Để thực hiện nội dung đặt cọc, anh H có đưa thêm cho anh V 10.000.000đ để anh V làm các thủ tục Giấy tờ công chứng, tách thửa, khi đưa tiền không có ai làm chứng, chỉ 02 người biết. Tuy nhiên, đến ngày hẹn anh V không thực hiện cam kết theo Hợp đồng đặt cọc và có ý trốn tránh, không hợp tác.
Nay, tại phiên Tòa anh rút lại một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu anh V trả số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) anh đã đưa làm thủ tục tách sổ. Chỉ yêu cầu anh V hoàn trả lại cho anh số tiền đã nhận cọc là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) . Tại phiên Tòa anh H không cung cấp thêm các chứng cứ.
Bị đơn anh Trần Anh V:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết và triệu tập anh V lên làm việc và tham gia quá trình tố tụng. Tuy nhiên, anh V không đến Tòa án làm việc cũng như trình bày ý kiến. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh V.
Tại phiên Tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu mà Tòa án thu thập được, lời khai của các đương sự, phần tranh luận của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xem xét buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) đã nhận cọc của nguyên đơn và tuyên bố hợp đồng đặt cọc đã xác lập giữa các bên vô hiệu, do lỗi của cả hai bên khi nhận đặt cọc chuyển nhượng thửa đất không phải chủ quyền của người nhận cọc. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh H buộc anh V trả tiền 10.000.000₫ (mười triệu đồng) tiền làm giấy tờ đất, do anh H rút yêu cầu. Án phí và các chi phí tố tụng khác đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết buộc bị đơn phải trả lại tiền đã nhận cọc. Do đó, quan hệ pháp luật giải quyết là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 và thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Việc chuyển nhượng theo hợp đồng và bị đơn cũng có nơi cư trú nằm trên địa bàn của huyện H nên căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 39 và điểm a, khoản 1 Điều 35 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thủ tục tố tụng.
Về sự vắng mặt của bị đơn đã được Tòa án triệu tập, niêm yết đúng thủ tục tố tụng, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên Tòa lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 1, Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Các đương sự đang tranh chấp về hợp đồng đặt cọc ngày 07/10/2022 giữa anh Nguyễn Huy H và anh Trần Anh V với mục đích chuyển nhượng một phần quyền sử dụng diện tích nằm trong thửa đất số 95, tờ bản đồ 12, tọa lạc ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Dương Thị P do UBND huyện B (cũ), tỉnh Bình Phước cấp 26/12/2000. Theo đó, phía nguyên đơn đưa số tiền đặt cọc bao gồm: 100.000.000đ có chữ ký, dấu vân tay xác nhận của anh Trần Anh V. Mặc dù, Tòa án không làm việc được với anh V nhưng qua chứng cứ thể hiện trên hợp đồng, cho thấy có sự việc ký kết hợp đồng đặt cọc đảm bảo chuyển nhượng thửa đất trên. Như vậy, việc ký kết hợp đồng, số tiền nhận và sự đồng ý chuyển nhượng của anh V cho thấy nghĩa vụ chứng minh của phía nguyên đơn đủ căn cứ để Hội đồng xét xử nhận định các bên ký kết hợp đồng là tự nguyện, các nội dung thỏa thuận của hợp đồng không bị ép buộc, và hợp đồng đặt cọc có thỏa thuận ràng buộc giữa các bên.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc với lý do: Căn cứ hợp đồng đặt cọc ngày 07/10/2022 thì thời hạn cuối cùng để các bên ra ký kết hợp đồng công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 07/12/2022. Tuy nhiên, đến nay các bên không làm được các thủ tục do anh V không thực hiện cam kết. Xét thấy, thửa đất các bên đang thực hiện hợp đồng đứng tên hộ bà Dương Thị P, việc anh V đại diện ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng với anh H mà không có sự đồng ý của các thành viên hộ bà Phước trong hợp đồng đủ cơ sở để xem xét hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu theo quy định tại Điều 102 và 212 Bộ luật Dân sự 2015 và Luật đất đai năm 2013. Ngoài ra, việc bị đơn từ chối tham gia tố tụng, không lên Tòa án làm việc, không cung cấp chứng cứ, chứng minh, trình bày yêu cầu để đảm bảo quyền lợi của bị đơn theo Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã thể hiện việc từ bỏ quyền lợi, nghĩa vụ và phải chịu hậu quả của việc không cung cấp được các chứng cứ chứng minh. Từ những chứng cứ Tòa án thu thập được, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, yêu cầu của nguyên đơn cho thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, buộc bị đơn phải hoàn trả lại tiền đã nhận cọc của nguyên đơn là có cơ sở, đúng pháp luật.
[4] Tại phiên Tòa, phía anh H rút lại yêu cầu đòi số tiền 10.000.000₫ đã đưa cho anh V làm giấy tờ đất, đây là ý chí tự nguyện của phía anh H nên cần chấp nhận, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền này,
[5] Tại phiên Tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về việc tuân theo pháp luật, nội dung vụ án nên cần chấp nhận.
[6] Về án phí và các chi phí tố tụng khác: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 93, 203, 147, 227, 233, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 117, 328, 423, 424, 427 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Huy H đối với anh Trần Anh V tranh chấp về hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/10/2022.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu anh Trần Anh V trả lại số tiền 10.000.000đ tiền đã đưa vào ngày 07/10/2022.
- Tuyên bố hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/10/2022 giữa anh Nguyễn Huy H đối với anh Trần Anh V vô hiệu. Buộc anh Trần Anh V trả cho anh Nguyễn Huy H số tiền: 100.000.000 đ.(Một trăm triệu đồng) đã nhận đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Về án phí: Anh Nguyễn Huy H không phải chịu án phí. Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước hoàn trả lại cho anh Nguyễn Huy H số tiền 2.750.000₫ (Hai triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0014591 ngày 26/5/2023. Anh Trần Anh V phải chịu 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền) nếu bên phải thi hành chậm thi hành thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thi hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Mạnh Hồng |
Bản án số 65b/2023/DS-ST ngày 20/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 65b/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
