Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 659/2024/DS-PT

Ngày: 25/7/2024

V/v Tranh chấp lối đi chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Loan

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Hiền

Bà Vũ Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 448/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp lối đi chung”.

Do Bản án số 84/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2970/2024/QĐPT-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 9297/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    1. Ông Lê Văn T, sinh năm: 1983;

      Địa chỉ: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1987;

      Địa chỉ: 4 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của ông T, bà T1: Ông Nguyễn Thế C, sinh năm: 1983; (Có mặt)

    Địa chỉ: B B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 21/11/2019, số công chứng: 20892, quyển số: 11 TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C3 chứng nhận; Giấy ủy quyền ngày 09/12/2019, số công chứng: 21831, quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng công chứng số 6 chứng nhận).

  2. Bị đơn:

    1. Bà Hoàng Thị Lợi M, sinh năm: 1950; (Vắng mặt)

      Địa chỉ: C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Ông Nguyễn Thăng L, sinh năm: 1939; (Vắng mặt)

      Địa chỉ: Căn hộ S Tầng B, số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Ông Lê Hoàng H, sinh năm: 1968; (Có mặt)

      Địa chỉ: Lầu B, số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Đinh Hoàng Bảo C1, sinh năm: 1988; (Vắng mặt)

    2. Bà Đinh Hoàng Bảo N, sinh năm: 1990; (Vắng mặt)

    3. Trẻ Nguyễn Hoàng Minh K, sinh năm: 2017;

    4. Trẻ Trần Hoàng Nam T2, sinh năm: 2019;

      Cùng địa chỉ: Số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    5. Bà Nguyễn Thị Minh H1, sinh năm: 1973; (Vắng mặt)

    6. Ông Lê Hoàng V, sinh năm: 1998; (Vắng mặt)

    7. Ông Lê Đức T3, sinh năm: 2005; (Vắng mặt)

      Cùng địa chỉ: Số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    8. Ông Đỗ T4, sinh năm: 1955; (Có mặt)

    9. Bà Nguyễn Ngọc S, sinh năm: 1953; (Vắng mặt)

    10. Bà Đỗ Ngọc Việt H2, sinh năm: 1982; (Vắng mặt)

      Cùng địa chỉ: P Lầu A, số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    11. Bà Lê Thị Thanh T5, sinh năm: 1952; (Vắng mặt)

    12. Bà Đinh Lê Tường V1, sinh năm: 1982; (Vắng mặt)

    13. Ông Đinh Viết T6, sinh năm: 1984; (Vắng mặt)

    14. Bà Đinh Lê V1, sinh năm: 1976; (Có mặt)

    15. Trẻ Đinh Lê Na V2, sinh năm: 2013;

    16. Trẻ Đinh Viết P, sinh năm: 2019;

    17. Trẻ Hồ Tuấn K1, sinh năm: 2009;

    18. Trẻ Hồ Trần Nhật M1, sinh năm: 2011;

      Cùng địa chỉ: Căn hộ S, tầng trệt, số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    19. Ông Nguyễn Quốc H3, sinh năm: 1975; (Vắng mặt)

    20. Trẻ Nguyễn Mỹ N1, sinh năm: 2007;

    21. Ông Nguyễn Chu M2, sinh năm: 2004; (Vắng mặt)

    22. Ông Nguyễn Quốc H4, sinh năm: 1983; (Vắng mặt)

    23. Bà Trần Thị Thanh T7, sinh năm: 1985; (Vắng mặt)

    24. Trẻ Nguyễn Tuệ L1, sinh năm: 2013;

    25. Trẻ Nguyễn Tuệ M3, sinh năm: 2020;

      Cùng địa chỉ: Số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    26. Ông Bùi Minh C2, sinh năm: 1970; (Vắng mặt)

    27. Bà Trương Thị T8, sinh năm: 1969; (Vắng mặt)

      Cùng địa chỉ: Số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    28. Ông Trương Hùng T9, sinh năm: 1986; (Vắng mặt)

    29. Bà Hoàng Lệ N2, sinh năm: 1986; (Vắng mặt)

      Cùng địa chỉ: Căn hộ S, tầng 3, số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    30. Ông Dương Văn M4, sinh năm: 1967; (Vắng mặt)

    31. Bà Nguyễn Thị Thúy H5, sinh năm: 1970; (Vắng mặt)

      Cùng địa chỉ: Căn hộ S, tầng C, số C N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    32. Ủy ban nhân dân Quận C4; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

      Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân Quận C4: Ông Phan Thế H6, sinh năm: 1972;

      Cùng địa chỉ: I T, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền số 15/UQ-UBND ngày 25/8/20223 của Ủy ban nhân dân Quận C4).

  4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Hoàng H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ T4 và bà Đinh Lê V2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:

Tại Đơn khởi kiện ngày 06/12/2019, ngày 10/01/2020 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn có ông Nguyễn Thế C là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh T1 là chủ sở hữu nhà đất số B N, Phường G (Nay là phường V), Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số AC 954556 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H0801/2005/SDĐ được Ủy ban nhân dân Quận C4 cấp vào ngày 01/9/2005 (cập nhật biến động ngày 11/12/2018). Hiện trạng nhà đất có cửa ra vào phía trước nhà số B N và cửa ra vào bên hông thuộc lối đi chung hướng từ hẻm C ra đường N, phường V, Quận C được thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số AC 954556 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H0801/2005/SDĐ. Do cửa sắt bên hông nhà thuộc lối đi chung hướng từ hẻm C ra đường N cũ kỹ và sập sệ nên ông T muốn tháo dỡ để lắp cửa mới thì bên các hộ cư ngụ tại hẻm C N ngăn cản.

Nhận thấy, các hộ dân cư ngụ tại hẻm C N ngăn cản không cho ông T, bà T1 sử dụng lối đi chung thuộc lối đi hướng từ hẻm C ra đường N được thể hiện trên Giấy chứng nhận đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của chủ sở hữu nhà. Vì vậy, ông T bà T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thăng L, bà Hoàng Thị Lợi M, ông Đinh Viết D, ông Lê Hoàng H không được ngăn cản ông T, bà T1 sử dụng lối đi chung bên hông thuộc lối đi hướng từ hẻm C ra đường N.

Tại đơn sửa đổi ngày 07/6/2022, nguyên đơn xác định lại người khởi kiện là ông Lê Văn T vì bà Nguyễn Thị Thanh T1 đã chuyển nhượng phần của bà T1 cho ông T vào tháng 03/2022 và đã được Chi nhánh Văn phòng Đ1 cập nhật biến động vào ngày 11/03/2022. Kèm theo đơn là Giấy chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 954556 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H0801/2005/SDĐ được Ủy ban nhân dân Quận C4 cấp vào ngày 01/9/2005 (cập nhật biến động ngày 11/03/2022). Nguyên đơn ông T xác định lại yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Thăng L, bà Hoàng Thị Lợi M, ông Đinh Viết D, ông Lê Hoàng H và các hộ dân cư ngụ tại hẻm C N không được ngăn cản ông T sử dụng lối đi chung bên hông thuộc lối đi hướng từ hẻm C ra đường N được thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 954556 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H0801/2005/SDĐ được Ủy ban nhân dân Quận C4 cấp vào ngày 01/9/2005.

Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn trình bày:

Bị đơn bà Hoàng Thị Lợi M trình bày: gia đình bà M và các hộ (hộ ông Bùi Minh C2, hộ ông Đinh Viết D, hộ ông Nguyễn Thăng L, hộ ông Đỗ T4, hộ ông Trương Hùng T9) cùng cư ngụ trong khuôn viên khu đất C N, Phường G, Quận C, được chuyển nhượng từ ông Ngô Văn Đ, bà Nguyễn Thị H7 từ năm 1981 theo công văn số 526/GP-UB của Ủy ban nhân dân Quận C4. Từ khi gia đình bà M về sinh sống tại số C N, chủ nhà B N sử dụng lối đi riêng ra đường N và không có lối đi qua khuôn viên 301 N. Cánh cửa hiện tại ông T và bà T1 cho rằng tôi ngăn cản không cho sử dụng đã được chủ cũ nhà số B N dựng lên nhưng đã chốt chặt, không được sử dụng làm lối đi. Bà M khẳng định khuôn viên 301 N nơi sinh hoạt chung của 08 hộ, không thể mở ra cho hộ 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa làm lối đi vì đây là sân trống trong khuôn viên theo bản vẽ được phòng xây dựng Ủy ban nhân dân Quận C4 ký ngày 27/11/1990. Hộ 297B N đã có lối đi riêng ra đường N. Khuôn viên 301 N có đường đi chung cho các hộ ra đường N, không phải con hẻm vì không có bảng hẻm 301. Vì vậy, bà M không đồng ý cho hộ 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa sử dụng sân trống của khuôn viên 301 Nam Kỳ Khởi nghĩa làm lối đi và không đồng ý cho hộ 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa mở cửa hậu qua khuôn viên 301 N.

Bị đơn ông Đinh Viết D trình bày: ông D cư ngụ tại căn số 2 tầng trệt khu đất số C N từ năm 1982. Khu đất này do ông Ngô Văn Đ, bà Nguyễn Thị H7 là chủ sở hữu đến năm 1990 hộ gia đình ông D và các hộ còn lại được hợp thức hóa nhà theo quy định. Từ khi về đây sinh sống thì khoản tường hiện đang tranh chấp là tường cao bịt kín, không có cửa trổ ra, chủ nhà trước đây là ông B đi bằng cửa chính ở số B N. Đến khoảng năm 1991, chủ nhà 297B N tự ý trổ cửa ở khoản tường này, các hộ không đồng ý và có đơn gửi đến Ủy ban nhân dân Phường để giải quyết. Thời điểm này có tranh chấp và chủ nhà sau đó chỉ để cửa vậy, không bít lại, không sử dụng, không dùng làm lối đi. Trong bản vẽ hợp thức hóa nhà năm 1990 cũng không thể hiện cửa ở vị trí này. Khi nhà B N sang nhượng tiếp cho ông T, bà T1 thì không biết vì sao thể hiện đây là cửa vì tất cả các hộ dân không có xác nhận ranh nhà trên bất kì bản vẽ nào. Ông D khẳng định đây là khuôn viên nhà và địa chỉ 301 N khu nhà có các hộ gia đình sinh sống từ trước đến nay, không phải lối đi chung cho hộ ông T, bà T1 theo đơn khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Thăng L trình bày: ông L đến cư ngụ tại căn hộ này từ năm 1981. Đến tháng 11/1990 khu đất do sở hữu là ông Ngô Văn Đ, bà Nguyễn Thị H7 đã chính thức được hợp thức hóa căn nhà 301 N. Vào năm 1991 có một chủ mới về phá tường, trổ cửa sang phần sân chung của các hộ, chúng tôi khiếu nại với Ủy ban nhân dân Phường và phường đã yêu cầu chủ mới phải xây lại phần tường đã phá. Chủ hộ này đã không sử dụng cửa này nữa. Khi căn hộ 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa sang nhượng cho chủ mới là ông T, bà T1 thì không biết vì sao bản vẽ lại thể hiện cửa mở sang phần sân chung của các hộ. Tất cả các hộ đều không xác nhận hình thức mở cửa qua phần sân chung của chúng tôi. Ông L khẳng định đây là khuôn viên sân chung của các hộ khu C N, không phải là con đường đi như đã ghi trong đơn khởi kiện.

Bị đơn ông Lê Hoàng H trình bày: ông H không ngăn cấm, không tranh chấp về lối đi chung với ông T, bà T1 vì nhà ông T, bà T1 là nhà bên 297B N không liên quan đến bên 301 Nam Kỳ Khởi Nghĩa do hai khu đất hoàn toàn riêng biệt nên chúng tôi không đồng ý cho ông T, bà T1 mở lối đi sang phía nhà 301 N. Theo luật đất đai, bên ông T, bà T1 không được mở lối sang hẻm C N.

Trong quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày như sau:

Ông Đỗ T4 trình bày: việc sửa đổi bản vẽ của nhà B N theo hướng đem lại lợi ích lớn lao cho ngôi nhà này, đồng thời gây thiệt hại nghiêm trọng lợi ích chính đáng và hợp pháp của các hộ dân thuộc khu đất C N, là hành vi lén lút và vi phạm pháp luật. Hành vi này nhằm hợp thức hóa cánh cổng mà nhà B N đã ngang ngược, xem thường pháp luật, trổ qua khu đất riêng thuộc chúng tôi, mặc dù ngôi nhà B N đã có lối đi riêng, thẳng ra đường N với mưu đồ làm cho ngôi nhà có giá thị trường cao hơn vì có thêm một lối đi, xe hơi có thể ra vào được. Vì vậy, yêu cầu Tòa án bác đơn khởi kiện của ông T, bà T1.

Bà Trương Thị T8 trình bày: gia đình bà T8 và các hộ cùng cư ngụ trong khuôn viên khu đất C N, Phường G, Quận C, được chuyển nhượng từ ông Ngô Văn Đ, bà Nguyễn Thị H7 từ năm 1981 theo công văn số 526/GP-UB của Ủy ban nhân dân Quận C4. Từ khi gia đình bà T8 về sinh sống tại số C N, chủ nhà B N sử dụng lối đi riêng ra đường N và không có đường đi qua khuôn viên 301 N. Cánh cửa hiện tại ông T và bà T1 cho rằng tôi ngăn cản không cho sử dụng đã được chủ cũ nhà số B N dựng lên nhưng đã chốt chặt, không được sử dụng làm lối đi. Bà T8 khẳng định khuôn viên 301 N nơi sinh hoạt chung của 08 hộ, không thể mở ra cho hộ 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa làm lối đi vì đây là sân trống trong khuôn viên theo bản vẽ được phòng xây dựng Ủy ban nhân dân Quận C4 ký ngày 27/11/1990. Hộ 297B N đã có lối đi riêng ra đường N. Khuôn viên 301 N có đường đi chung cho các hộ ra đường N, không phải con hẻm vì không có bảng hẻm 301. Vì vậy, bà T8 không đồng ý cho hộ 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa sử dụng sân trống của khuôn viên 301 N làm lối đi và không đồng ý cho hộ 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa mở cửa hậu qua khuôn viên 301 N.

Bà Đinh Lê V2 trình bày: không đồng ý tiến hành hòa giải, yêu cầu giữ nguyên hiện trạng như bản vẽ năm 1990. Yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ là Bản vẽ họa đồ vị trí 1/1000 của nhà 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa năm 1990 và giấy kí xác nhận giáp ranh khi bà Lê Ngọc T10 làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà. Nếu nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ trên, đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng vẫn không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt không lý do tại các buổi phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; phiên tòa.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 104/2024/QĐ-SCBSQĐ ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1 về việc buộc ông Nguyễn Thăng L, bà Hoàng Thị Lợi M, ông Lê Hoàng H và các hộ dân cư ngụ tại hẻm C N không được ngăn cản bà Nguyễn Thị Thanh T1 sử dụng lối đi bên hông thuộc lối đi hướng từ hẻm C N thể hiện trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 954556 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0801/2005/SDĐ do Ủy ban nhân dân Quận C4 cấp ngày 01/9/2005.

  2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn T:

    Buộc ông Nguyễn Thăng L, bà Hoàng Thị Lợi M, ông Lê Hoàng H và các hộ dân cư ngụ tại hẻm C N không được ngăn cản ông Lê Văn T sử dụng lối đi bên hông thuộc lối đi hướng từ hẻm C N thể hiện trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AC 954556 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0801/2005/SDĐ do Ủy ban nhân dân Quận C4 cấp ngày 01/9/2005.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 07/10/2023, ông Lê Hoàng H, ông Đỗ T4 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Ngày 10/10/2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đinh Lê V2 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm theo hướng, đề nghị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết vụ án

Ông Lê Hoàng H trình bày: Nhà bên B N không liên quan đến bên 301 Nam Kỳ Khởi Nghĩa do hai khu đất hoàn toàn riêng biệt. Cánh cửa hiện ngăn giữa nhà 297B và khu đất của các hộ dân được chủ cũ nhà số B N dựng lên nhưng đã chốt chặt, chỉ làm lối thoát hiểm khi cần thiết nên được đóng từ trước đó. Do phần đất tranh chấp không phải là hẻm, không liên quan đến nhà 297B nên ông không đồng ý mở cửa ngăn để hộ 297B đi.

Ông Đỗ T4 trình bày: Bản vẽ năm 2005 không có thể hiện tọa độ, phần đất tranh chấp lối đi không phải là hẻm mà là sân chung của các hộ dân tại địa chỉ C N. Giữa khu đất có căn nhà của ông T và khu đất của 8 hộ dân bên này có bức tường ngăn. Ông T4 không đồng ý cho nhà 297B được đi bên lối đi 301 N.

Bà Đinh Lê V2 trình bày: Ông Ngô Văn Đ, bà Nguyễn Thị H7 là chủ sở hữu của khu đất tại địa chỉ C N, sau đó tách thửa bán cho các hộ dân. Gia đình bà sinh sống tại số C N từ năm 1984. Cánh cửa hiện tại do chủ cũ nhà số B N ông B dựng lên, xin để cửa để làm lối thoát hiểm, không được sử dụng làm lối đi nên các hộ dân tại số C N mới đồng ý. Căn cứ Giấy phép chuyển dịch nhà của ông Đ, tờ khai chuyển dịch tài sản nộp lệ phí trước bạ, H8 đồ vị trí xác lập năm 1990 thì phần đất đang tranh chấp là sân trống. Yêu cầu xác định nguồn gốc thửa đất là của ông Đ. Cánh cổng hiện nay không hình thành lối đi mà chỉ là ranh giới nhà. Nếu nhà B N bị bao bọc thì mới có quyền mở lối đi. Nếu cơ quan có thẩm quyền xác định là hẻm thì đây không phải là hẻm công cộng mà là hẻm nội bộ thuộc quyền sở hữu của các hộ dân tại 301 N. Vì vậy, bà V2 không đồng ý mở lối đi cho nhà B N.

Nguyên đơn ông Lê Văn T có người đại diện là ông Nguyễn Thế C trình bày: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số AC 954556, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H0801/2005/SDĐ được Ủy ban nhân dân Quận C4 cấp vào ngày 01/9/2005 (cập nhật biến động ngày 11/12/2018) thì nhà của ông T cửa ra vào phía trước nhà số B N và cửa ra vào bên hông thuộc lối đi chung hướng từ hẻm C ra đường N. Do đó, việc ông T yêu cầu được sử dụng lối ra từ hẻm C ra đường N có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự cũng được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Các bên đều xác định cửa hiện trạng ra hẻm C N có trước khi ông T về ở tại đây. Do cửa đã cũ và sập xệ, ông T muốn tháo dỡ để sửa chữa thì xảy ra tranh chấp với các hộ dân khác trong hẻm C N. Như vậy, thực tế ông T đã quản lý, sử dụng nhà đất có cửa ra hẻm C N từ lâu.

Ông H, ông T4, bà V2 cho rằng khuôn viên khu đất C N, Phường G, Quận C có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Ngô Văn Đ, bà Nguyễn Thị H7 là nơi sinh hoạt chung và là đường đi chung cho 08 hộ dân ra ở số C ra đường N, không phải con hẻm theo bản vẽ được phòng xây dựng Ủy ban nhân dân Quận C4 ký ngày 27/11/1990. Hộ 297B N đã có lối đi riêng ra đường N. Vì vậy, các ông bà không đồng ý cho hộ 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa sử dụng sân trống của khuôn viên 301 Nam Kỳ Khởi nghĩa làm lối đi và không đồng ý cho hộ 297B Nam Kỳ Khởi Nghĩa mở cửa bên hông qua khuôn viên 301 N.

Xét thấy, tại Họa đồ vị trí có xác nhận do Phòng Xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân Quận C4 lập ngày 27/11/1990 thể hiện phần đất tranh chấp ghi “sân trống”. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì để xác định cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đất sẽ phải căn cứ vào giấy chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp. Các hộ dân tại hẻm C N đều được cấp giấy chứng nhận đối với nhà đất đang quản lý, sử dụng. Tại trang thông tin về Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của các Giấy chứng nhận nhà đất của các hộ dân đều thể hiện phần đất tranh chấp ghi là “hẻm xi măng, hẻm cụt”. Trong khi, về phần ông T nhận chuyển nhượng nhà đất từ bà Lê Thị Ngọc T11 vào năm 2018. Khi mua đã có cửa ra hẻm C N. Điều đó, có nghĩa rằng, ông T có toàn quyền và nghĩa vụ đối với căn nhà giống như bà T11 trước đây. Mặt khác, căn cứ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H0801/2005/SDĐ ngày 01/9/2005, tại trang 3 thể hiện nhà 297B có 02 lối đi ra đường N, một trong lối đi đó là hẻm C N.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã có nhiều văn bản gửi đến các cơ quan quản lý nhà nước hành chính ở địa phương xác minh về lối đi 301 N. Phúc đáp công văn số 117/TAQ3 ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Phòng Q đã ban hành văn bản số 211/QLĐT ngày 10/3/2022 có nội dung như sau: Xác định nhà số B N có cửa hiện trạng ra hẻm C N đã có từ trước ngày 08/02/1990, các bản vẽ đều thể hiện là hẻm cụt.

Tại Công văn số 557/TNMT ngày 29/6/2020 của Phòng T12 xác định căn nhà B N, Phường G, Quận C được Ủy ban nhân dân Quận C4 cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H0801/2005/SDĐ ngày 01/9/2005, tại trang 3 thể hiện nhà 297B có 02 lối đi ra đường N.

Tại Công văn số 769/TNMT ngày 13/8/2020 của Phòng T12 thông tin vị trí hẻm C N, Phường G, Quận C được xác định là hẻm cụt, giữ nguyên hiện trạng không quy hoạch mở rộng.

Tại Công văn số 460/QLĐT ngày 26/6/2020 của Phòng Q xác định tại địa chỉ B N, Phường G, Quận C có quyền mở cửa và sử dụng lối đi hẻm C N theo hiện trạng cũ như trong Giấy chứng nhận số AC 954556 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0801/2005/SDĐ do Ủy ban nhân dân Quận C4 cấp ngày 01/9/2005 (cập nhật ngày 11/12/2018).

Như vậy, ông H, ông T4, bà V2 cho rằng lối đi 301 N lối đi chung của 08 hộ dân nhưng không có giấy tờ pháp lý chứng minh được diện tích đất lối đi này là do họ sở hữu. Trong khi, từ năm 1990 cửa bên hông nhà B N, Phường G, Quận C đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng, trổ cửa mở ra hẻm C N. Hiện trạng này tiếp tục được thể hiện trên trang thông tin số V của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 954556 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0801/2005/SDĐ do Ủy ban nhân dân Quận C4 cấp ngày 01/9/2005 cấp cho bà T11. Đến năm 2018, bà T11 chuyển nhượng căn nhà trên cho ông T, bà T1 và được Chi nhánh Văn phòng Đ1 cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 11/12/2018. Tháng 03/2022, bà T1 chuyển nhượng lại cho ông T và được Chi nhánh Văn phòng Đ1 cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 11/03/2022, hình thức sở hữu: sở hữu riêng. Do đó, Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc được sử dụng lối đi theo hướng hẻm C N có cơ sở.

Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hoàng H, ông Đỗ T4 và bà Đinh Lê V2; Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông T4, ông H, bà V2 không được Tòa chấp nhận nên các đương sự phải chịu án phí theo quy định. Riêng ông T4 trên 60 tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 169, 206 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 12, Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Hoàng H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ T4 và bà Đinh Lê V2

Tuyên xử: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm:

  1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 84/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 104/2024/QĐ-SCBSQĐ ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Đỗ T4 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

    Ông Lê Hoàng H, bà Đinh Lê V2 mỗi người phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà ông H, bà V2 đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo các Biên lai thu số AA/2022/0002114 ngày 18/10/2023 và AA/2022/0002118 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - TAND Quận 3 - Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 659/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp lối đi chung

  • Số bản án: 659/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger