| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập – Tự do – Hạnh phúc | |
| Bản án số: 659/2024/DS-PT Ngày 20 – 8 – 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 476/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2382/2024/QĐ-PT ngày 25/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đình Phước Q.
- - Ông Phan Văn K, sinh năm 1953 (có mặt);
- - Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1958 (vắng mặt);
- Ông Phan Văn T, sinh năm 1958 (có mặt);
- Ông Phan Văn S, sinh năm 1955 (có mặt);
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1957 (vắng mặt);
- - Ông Đặng Phúc N, sinh năm 1965 (có mặt);
- - Ông Trần Hồng H, sinh năm 1958(vắng mặt);
- - Ông Hồ Văn N1, sinh năm 1943 (vắng mặt);
- - Ông Trần Văn T2, sinh năm 1950 (vắng mặt);
- Ông Trần Văn T3, sinh năm 1958 (vắng mặt);
- Ông Lưu Đình T4, sinh năm 1959 (vắng mặt);
- Bà Hồ Thị P1, sinh năm 1957 (vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Trần Văn X, sinh năm 1946 (vắng mặt);
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Trần Minh T5, sinh năm 1974 (có mặt);
- 3.2. Bà Tống Thị G, sinh năm 1977 (có đơn xin vắng mặt);
- 3.3. Ông Trần Minh N2, sinh năm 1964 (có mặt);
- 3.4. Ông Trần Minh T6, sinh năm 1966 (có đơn xin vắng mặt);
- 3.5. Ông Trần Minh N3, sinh năm 1970 (có đơn xin vắng mặt);
- 3.6. Bà Trần Thị Hồng X1, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt);
- 3.7. Ông Trần Minh V, sinh năm 1972 (có đơn xin vắng mặt);
- 3.8. Ông Trần Minh T7, sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt);
- 3.9. Bà Trần Thị Thanh X2, sinh năm 1977 (có đơn xin vắng mặt);
- 3.10. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt);
- 3.11. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn X.
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ban quản trị Đình Phước Q:
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của Ban quản trị Đình Phước Q: Ông Phan Văn K, sinh năm 1953 (có mặt).
Địa chỉ: Số A ấp B, xã P, huyện B, tỉnh Long An
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Minh T5, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số A ấp B, xã P, huyện B, tỉnh Long An (có mặt) và ông Phạm H1, sinh năm 1959; Địa chỉ: Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số A ấp B, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thành Ú – Chủ tịch.
Địa chỉ: Số B Quốc lộ A, Khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/12/2021, ngày 08/02/2023, ngày 11/10/2023 của nguyên đơn Đình Phước Q, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà, ông Phan Văn K đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày:
Trong văn bản của UBND xã P trả lời ông Phan Văn Đ (Ban quản trị thời kỳ trước) ngày 25/6/1989 có ghi “Năm 1988 chúng tôi để lại cho gia đình canh tác 2.028m² nhưng do ông X có ý định bán một phần ruộng Đ1 để thu lợi cá nhân nên Ban Quản trị cử ông Phan Văn Đ ra UBND xã khởi kiện”, UBND xã có mời các bên liên quan hòa giải với nội dung thống nhất như sau:
Ông X được canh tác phần đất trên và đóng hoa lợi nhang khói cho Đ1 là 10 giạ lúa/năm.
Ông X cam kết không được bán hoặc thế chấp phần đất trên.
Tuy nhiên, không biết bằng cách nào mà ông Trần Văn X lại được nhà nước cấp giấy chủ quyền phần đất trên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0366 QSDĐ/0203-LA ngày 12/6/1996 của UBND huyện B và hiện tại ông X đã bán một phần thửa số 871 (cũ), diện tích là 2.123m² cho người khác, nay là thửa số 362, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An. Đình Phước Q không tranh chấp phần đất đã bán này. Hiện nay, diện tích đất còn lại là 1.684,6m², thuộc thửa đất số 44 (mới), tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 478-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo vẽ ngày 08/11/2022 và duyệt ngày 09/11/2022. Vì vậy, Đ1 yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết các yêu cầu như sau:
- - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0366 QSDĐ/0203-LA ngày 12/6/1996 của UBND huyện B cấp cho ông Trần Văn X đối với thửa số 871 (cũ), diện tích 2.123m² nay là thửa số 44, diện tích thực tế là 1.684,6m².
- - Công nhận phần đất thuộc thửa số 44, diện tích 1.684,6m² tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An thuộc về Đ1 và Đ1 có quyền liên hệ cơ quan nhà nước đăng ký lại phần đất trên theo đúng luật tôn giáo và tín ngưỡng.
- - Yêu cầu ông Trần Văn X trả lại cho Đ1 phần đất có diện tích 1.684,6m² thuộc thửa số 44, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Minh T5 người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Trần Văn X trình bày:
Phần đất thuộc thửa số 44, diện tích 1.684,6m² tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An là do chính quyền cấp cho ông Trần Văn X nên ông X không đồng ý trả phần đất này lại cho Đình Phước Q.
Đình Phước Q cũng có cấp đất cho ông X mướn nhưng không phải phần đất tranh chấp này. Phần đất tranh chấp này ông X được nhà nước cấp và ông X đã sử dụng từ rất lâu. Nếu là đất của Đ1 tại sao khi nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông X không ai ngăn cản.
Tại Công văn số 14740/UBND-VP ngày 15/11/2023, Ủy ban nhân dân huyện B trình bày:
Thửa đất 871, tờ bản đồ số 2, xã P, theo Bản tường trình ngày 07/12/2020 của Ban quản trị Đình Phước Q, đất có nguồn gốc người dân hiến cho Đ1 trước năm 1975 với diện tích khoảng 5ha để Đ1 có nguồn thu hoa lợi cúng Đ1 hàng năm và ông Trần Văn X là người canh tác số đất nêu trên. Sau năm 1975 thực hiện chính sách đất đai, UBND xã P đã thu hồi 5ha đất nêu trên làm quỹ đất của xã để giao cấp cho gia đình chính sách, gia đình liệt sĩ... Trong 5ha đất nêu trên Ban quản trị Đình Phước Q đã xin UBND xã P để lại 2.028m² đất từ năm 1988 để canh tác nhằm có nguồn kinh phí nhang khói cho Đ1 và đã giao cho ông Trần Văn X canh tác đóng hoa lợi hàng năm cho Đ1 (được tính bằng 10 giạ lúa/ năm).
Xét báo cáo số 605/UBND-ĐC ngày 03/11/2023 của UBND xã P về nguồn gốc thửa đất 871 của Đình Phước Q và việc đề nghị UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn X ngày 12/6/1996 với tổng diện tích 8.925m², trong đó có thửa đất số 871, tờ bản đồ 2, diện tích 2.123m², loại đất lúa của Đình Phước Q là có sai sót, chưa đúng với quy định về pháp luật đất đai. Hiện nay ông Trần Văn X đã đi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng theo quy định. Thửa đất 871 phiên ngang qua bản đồ địa chính mới thành thửa đất số 44, tờ bản đồ 12, diện tích 1.688,2m² (giảm 434,8m² do mở rộng đường tỉnh 835C) loại đất lúa (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 103541, số vào sổ CS 04800 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2017).
Ông Trần Văn X đã nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng tại UBND xã P ngày 27/8/2020.
Thửa đất 871, tờ bản đồ 2 cũ được phiên ngang thành thửa đất số 44, tờ bản đồ 12 mới tại xã P, có nguồn gốc đất của Đình Phước Q (thuộc đất Tín ngưỡng dân gian), việc trước đây UBND xã P đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn X là sai sót không đúng quy định. UBND huyện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh xem xét thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CG 103541, số vào sổ CS 04800, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 08/3/2017 cho ông Trần Văn X để lập lại thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Đình Phước Q.
Tại Công văn số 2214/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 04/4/2024, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L trình bày:
Ông Trần Văn X được UBND huyện B, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành B 203010 (số vào số cấp GCN: 0366 QSDĐ/0203-LA) ngày cấp 12/6/1996, trong đó có thửa đất số 871, tờ bản đồ số 2, diện tích 2.123m², loại đất Lúa, đất tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Ngày 25/8/2015, ông Trần Văn X3 có Đơn đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 871, tờ bản đồ số 2, diện tích 2.123m², loại đất Lúa thành thửa đất số 44, tờ bản đồ số 12, diện tích 1688,2m², loại đất LUC, đất tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An và được Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CG 103541 (số vào số cấp GCN: CS 04800) ngày cấp 08/3/2017, đối với thửa đất số 44, tờ bản đồ số 12, diện tích 1688,2m², loại đất LUC, đất tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Việc Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Trần Văn X là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định. Đối với yêu cầu của đương sự, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét giải quyết theo quy định
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An căn cứ: các Điều 26, 34, 37, 39, 147, 157, 158, 165, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; Điều 5, 17, 100, 166, 170 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và Quyết định số 201/QĐ.ĐKTK ngày 14/7/1989 của T9; Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đình Phước Q về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Trần Văn X.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0366 QSDĐ/0203-LA ngày 12/6/1996 của UBND huyện B cấp cho ông Trần Văn X đối với thửa số 871 (cũ), diện tích 2.123m² nay là thửa số 44, diện tích thực tế là 1.684,6m².
- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CG 103541 ngày 08/3/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Trần Văn X đứng tên đối với thửa đất số 44, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An.
- Buộc ông Trần Văn X trả lại cho Đình Phước Q phần đất có diện tích 1.684,6m², thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 478-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo vẽ ngày 08/11/2022 và duyệt ngày 09/11/2022.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và dành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 24/4/2024, bị đơn ông Trần Văn X có đơn kháng cáo đề nghị sửa toàn bộ quyết định của bản án sơ thẩm, xử bác toàn bộ yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Phạm H1 và ông Trần Minh T5 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn X, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn X. Sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn Đình Phước Q có người đại diện theo ủy quyền của Ban quản trị Đình Phước Q1 là ông Phan Văn K, không đồng ý kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn X, Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Các đương sự cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ gì mới, và cũng không có thỏa thuận gì với nhau, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
- - Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cũng phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn X, đại diện Viện kiểm sát cho rằng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn X, giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn X trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn bị đơn ông Trần Văn X, Hội đồng xét xử xét thấy:
Phần đất đang tranh chấp thuộc thửa số 44, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.684,6m², tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An (Theo Mảnh trích đo địa chính số 478-2022 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B đo vẽ ngày 08/11/2022 và duyệt ngày 09/11/2022).
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp:
Tại Biên bản hoà giải ngày 28/9/1998 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Long An ông Trần Văn X trình bày “Tôi xin cam kết là chỉ canh tác phần đất 2.028m² (hai ngàn không trăm hai mươi tám mét vuông) mỗi năm đong cho Đ1 là 6 (sáu) giạ để lo nhan khói...”.
Bị đơn cho rằng phần đất mà Đ1 cho mướng là phần đất khác, không phải phần đất đang tranh chấp thuộc một phần thửa 44 nêu trên. Tuy nhiên, bị đơn không chứng minh được phần đất khác là phần đất nào? Thuộc thửa số mấy, tờ bản đồ nào? Toạ lạc tại đâu?
Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 05/02/2024, ông Đặng Tấn T8 là cán bộ tư pháp là thành viên tham gia Hội đồng hoà giải ngày 28/9/1998 khẳng định “phần đất tranh chấp giữa Đình Phước Q và ông Trần Văn X là phần đất tại vị trí giáp với lộ nhựa (đường H)...”.
Đại diện Ủy ban nhân dân xã P, huyện B cũng xác định “Vào ngày 28/9/1998 UBND xã P tổ chức hoà giải tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Đình Phước Q với ông Trần Văn X tại phần đất tranh chấp có vị trí cặp lộ đường 835C”.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông T5 cho rằng phần đất tranh chấp cũng có nguồn gốc là của Đình Phước Q, được Nhà nước đã thu hồi, sau đó cấp lại cho gia đình chính sách trong đó có gia đình ông X. Phần đất Đ1 cho gia đình ông mượn để canh tác hiện tại gia đình vẫn còn làm, nhưng không phải thửa đất đang tranh chấp. Tuy nhiên, ông T5 không xác định vị trí thửa đất đó là ở đâu trong phần đất gia đình đang canh tác nên lời trình bày này không có cơ sở để chấp nhận.
Mặt khác, tại Công văn số 14740/UBND-VP ngày 15/11/2023, Ủy ban nhân dân huyện B cũng thừa nhận rằng “thửa đất 871, tờ bản đồ 2 cũ được phiên ngang thành thửa đất số 44, tờ bản đồ 12 mới tại xã P, có nguồn gốc đất của Đình Phước Q (thuộc đất Tín ngưỡng dân gian), việc trước đây UBND xã P đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn X là sai sót không đúng quy định”.
Như vậy, có cơ sở khẳng định phần đất tranh chấp có nguồn gốc và thuộc quyền sử dụng của Đình Phước Q.
[2.2] Về quá trình sử dụng: Nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất xác định ông Trần Văn X là người canh tác thửa đất nêu trên từ trước năm 1975 đến nay. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên thì việc ông X canh tác là để tạo nguồn kinh phí nhang khói cho Đ1, nên Đ1 đã giao cho ông Trần Văn X canh tác đóng hoa lợi hàng năm cho Đ1 (được tính bằng 10 giạ lúa/ năm).
[2.3] Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 203010, số vào sổ 0366 QSDĐ/0203 LA ngày 12/6/1996 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Trần Văn X đứng tên đối với thửa đất 871, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa đất 44, tờ bản đồ số 12) tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An thì thấy rằng, tại Công văn số 14740/UBND-VP ngày 15/11/2023, Ủy ban nhân dân huyện B cũng thừa nhận rằng “thửa đất 871, tờ bản đồ 2 cũ được phiên ngang thành thửa đất số 44, tờ bản đồ 12 mới tại xã P, có nguồn gốc đất của Đình Phước Q (thuộc đất Tín ngưỡng dân gian), việc trước đây UBND xã P đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn X là sai sót không đúng quy định”.
Từ phân tích ở trên, có cơ sở khẳng định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của Đình Phước Q, việc ông X kê khai, đăng ký để được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng quy định của pháp luật, cần huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và buộc ông X trả lại cho Đình P2 Quảng phần đất có diện tích 1.684,6m² thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ số 12 (thửa cũ 871, tờ bản đồ số 2), tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An.
[3] Tòa án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đình Phước Quảng, là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn ông Trần Văn X kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm. Ông Trần Văn X là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn X.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An
Áp dụng các Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; Điều 5, Điều 17, Điều 100, Điều 166, Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và Quyết định số 201/QĐ.ĐKTK ngày 14/7/1989 của T9; Điều 12, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đình Phước Q về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Trần Văn X.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0366 QSDĐ/0203-LA ngày 12/6/1996 của UBND huyện B cấp cho ông Trần Văn X đối với thửa số 871 (cũ), diện tích 2.123m² nay là thửa số 44, diện tích thực tế là 1.684,6m².
- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CG 103541 ngày 08/3/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Trần Văn X đứng tên đối với thửa đất số 44, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An.
- Buộc ông Trần Văn X trả lại cho Đình Phước Q phần đất có diện tích 1.684,6m², thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 478-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo vẽ ngày 08/11/2022 và duyệt ngày 09/11/2022.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
- Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn X được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị Cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lục pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Mười |
Bản án số 659/2024/DS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 659/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
