TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 658/2024/DS-ST
Ngày: 04-9-2024
V/v “Tranh chấp đòi nhà
cho ở nhờ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Mai;
- Bà Phạm Thị Phước;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ 27 tháng 8 đến 04 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2023/TLST-DS ngày 13/02/2023 về việc “Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 594/2024/QĐXXST-DS ngày 30/7/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thu L, sinh năm 1963; Địa chỉ: A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hứa Thị Thu T, sinh năm 1981, theo Hợp đồng ủy quyền ngày 03/3/2023; Địa chỉ: A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Bùi Nguyễn Trí B, sinh năm 2000; Địa chỉ: A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Bùi Thị Ngọc L1, sinh năm 1978, theo Giấy ủy quyền ngày 21/11/2023;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị Ngọc L1, sinh năm 1978;
- Bà Bùi M, sinh năm 1982;
- Bà Bùi Thị Ngọc P, sinh năm 1972;
- Chị Bùi Ngọc A, sinh năm 2005.
Cùng địa chỉ: A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi M và chị Bùi Ngọc A: Bà Bùi Thị Ngọc L1, sinh năm 1978, theo Giấy ủy quyền ngày 21/11/2023 và Giấy ủy quyền ngày 20/6/2024.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị Ngọc P: Ông Nguyễn Thanh C, sinh năm 1968, theo Giấy ủy quyền ngày 12/6/2024;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình giải quyết, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn - bà Lâm Thị Thu L trình bày: Căn nhà tập thể 03 tầng (gồm 01 trệt + 02 lầu) tại địa chỉ số A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh được nhà nước cấp cho bà Trần Thị Đ theo diện gia đình chính sách. Năm 1989 bà Đ chết, căn nhà được giao cho bà Lâm Thị Thu N (con gái bà Đ) quản lý, sử dụng. Đến năm 2005, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T ban hành quyết định về việc thu hồi lại quyết định cấp nhà trước đó cho bà Đ với lý do: nhà số 116 Bùi Thị X có phần diện tích tại tầng 3 (lầu 2) được bà Trần Thị T1 sử dụng từ năm 1976 đến nay nên việc cấp tầng 3 cho bà Đ là không đúng, đồng thời, trong quyết định hướng dẫn bà Lâm Thị Thu N lập thủ tục hợp thức hóa một phần (gồm tầng 1 và tầng 2) nhà số 116 theo đúng hiện trạng sử dụng đất thực tế.
Sau đó, bà Lâm Thị Thu N đã tiến hành làm thủ tục hợp thức hóa và được nhà nước hóa giá theo Nghị định 61 của Chính phủ đối với phần diện tích nhà tại tầng 1 và tầng 2 địa chỉ A B, Phường B, quận T (theo Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất ở số 41/HĐMBNƠ.1 ngày 16/01/2010). Đến năm 2017, bà Lâm Thị Thu L (cháu của bà N) nhận chuyển nhượng quyền sở hữu nhà từ bà Lâm Thị Thu N theo hợp đồng mua bán căn hộ số 018342 ngày 08/5/2017 tại Phòng C2 Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã được nhận nhà và làm thủ tục cập nhật tên quyền sử dụng sở hữu nhà theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH00498/GCN do Ủy ban nhân dân quận T cấp, theo hồ sơ đăng ký biến động số 4583/2017 ngày 22/5/2017.
Trước đó vào khoảng năm 1977, bà Trần Thị Đ có cho gia đình ông Bùi Văn M1, sinh năm 1948 ở nhờ dưới tầng trệt do là thấy gia đình ông M1 khó khăn, ông M1 lại là cháu họ ở dưới quê của bà Đ. Việc ở nhờ không được các bên thỏa thuận bằng văn bản. Sau đó, bà Đ còn đồng ý để ông M1 nhập hộ khẩu cho các con để xin đi học ở thành phố. Đến năm 1989 thì bà Đ chết, căn nhà thuộc quyền quản lý của bà Lâm Thị Thu N (bà N là người đứng ra ký hợp đồng thuê nhà với nhà nước). Sau khi bà L mua nhà của bà N và nhận được nhà, bà L vẫn đồng ý cho gia đình các con ông M1 là bà Bùi Thị Ngọc Liên tiếp t ở nhờ. Nhưng nay do điều kiện gia đình khó khăn nên bà L không đồng ý cho gia đình bà L1 ở nhờ nữa và đã nhiều lần yêu cầu trả nhà. Theo thời gian nhiều người đã dọn ra ngoài, có chỗ ở ổn định, công ăn việc làm và thu nhập khá. Tuy nhiên, đến thời điểm khởi kiện còn có ông Bùi Nguyễn Trí B, sinh năm 2000 (con bà L1) là vẫn còn ở tại đó, không chịu dọn đi.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Bùi Nguyễn Trí B và những người có liên quan trả nhà và ra khỏi tầng 1 (trệt) của nhà số A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Phía bị đơn – ông Bùi Nguyễn Trí B có bà Bùi Thị Ngọc L1 làm đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nhà số A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 là cửa hàng và nơi sinh hoạt của Thanh niên phường. Sau đó ba tôi là Bùi Văn M1 xin tạm trú. Phòng Thương binh và Xã hội quận T tạm cấp cho bà Trần Thị Đ tầng trệt, tầng 1 và gia đình ông M1 ở tầng trệt, tạm trú từ năm 1984 đến năm 1988 được giấy giới thiệu của Phòng đối ngoại Quân khu G và Công an Thành phố xét duyệt nhập khẩu vào địa chỉ trên. Gia đình chúng tôi đã sinh sống tại đây qua nhiều thế hệ, có đăng ký thường trú đầy đủ.
Vì căn nhà quá nhỏ nên một số người đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Còn các thành viên khác do cuộc sống gặp nhiều khó khăn vẫn ở lại căn nhà tại nhà số A, B, Phường B, quận T, Thành phố C. Bản thân ông B cũng ở tại đây vì còn đang đi học tại thành phố.
Do đó, phía bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trước Tòa. Khẳng định căn nhà tại tầng 1 (trệt) địa chỉ A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do gia đình bà ở từ xưa đến nay, thuộc diện nhà nước cho ở. Do đó, đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Bùi Thị Ngọc L1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi M, chị Bùi Ngọc A trình bày: Đồng ý với phần trình bày của bị đơn, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Bùi Thị Ngọc P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do ông Nguyễn Thanh C làm người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Theo ông được biết căn nhà tại địa chỉ 116 Bùi Thị X sau năm 1975 là cửa hàng Hợp tác xã của quận T, là nơi sinh hoạt của Đoàn Thanh niên quận. Sau thời gian xuống cấp đóng cửa, năm 1980 ông Bùi Văn M1 có đăng ký tạm trú tại căn nhà trên và được Phòng Lao đồng Thương binh Xã hội quận T tạm cấp cho bà Trần Thị Đ. Sau một năm thì bà Đ bị bệnh và chuyển về An Giang thì mất.
Còn phần tôi tạm trú tại số nhà A B, Phường B, quận T. Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1985 sau đó tôi lấy vợ là Bùi Thị Ngọc P con của ông Bùi Văn M1 năm 1989, đến năm 1994 tôi được giấy giới thiệu của phòng đối ngoại Quân khu G gửi Công an Thành phố nhập hộ khẩu vào số nhà A B, Phường B, quận T, TP H. Lúc thời điểm trên số nhà A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền quản lý của Phòng Thương Binh xã Hội Quận T. Vợ chồng tôi sinh được 3 người con đều có thường trú, sinh sống tại địa chỉ trên. Hiện vợ tôi là Bùi Thị Ngọc P bệnh không có việc làm.
Do đó, tôi thống nhất với lời trình bày của bà L1. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để gia đình chúng tôi ổn định chỗ ở, mưu sinh và sinh hoạt như từ trước đến nay.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đã trình bày trước Tòa.
Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên ý kiến như đã trình bày và đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi nhà của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa. Kiến nghị Tòa án vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn và những người đang ở trong Tầng A (trệt) căn nhà A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh phải rời khỏi nhà và trả nhà cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn bà Lâm Thị Thu L khởi kiện yêu cầu ông Bùi Nguyễn Trí B trả lại Tầng 1 (trệt) căn nhà A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là quan hệ tranh chấp về đòi nhà cho ở nhờ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại quận T và đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a và c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn Lâm Thị Thu L ủy quyền cho bà Hứa Thị Thu T; bị đơn Bùi Nguyễn Trí B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi M, Bùi Ngọc A ủy quyền cho bà L1 tham gia tố tụng. Bà Bùi Thị Ngọc P ủy quyền cho ông Nguyễn Văn C1 tham gia tố tụng. Việc ủy quyền của các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về nguồn gốc căn nhà, căn cứ vào Công văn số 43/UBND-ĐT ngày 08/01/2024 của Ủy ban nhân dân quận T và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Căn nhà tập thể gồm 03 tầng (01 trệt + 02 lầu) tại địa chỉ số A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ban đầu được nhà nước cấp cho bà Trần Thị Đ theo diện gia đình chính sách, tại Quyết định số 472/QĐ-UB ngày 30/6/1980 của Ủy ban nhân dân quận T. Năm 1989 bà Đ chết, căn nhà được giao cho bà Lâm Thị Thu N (con gái bà Đ) quản lý, sử dụng. Đến năm 2005, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T ban hành quyết định số 129/QĐ-UBND ngày 28/11/2005 về việc thu hồi lại quyết định số 472/QĐ-UB ngày 30/6/1980 của Ủy ban nhân dân quận T với lý do: nhà số A B có phần diện tích tại tầng 3 (lầu 2) được bà Trần Thị T1 sử dụng từ năm 1976 đến nay. Đồng thời, tại Điều 2 của quyết định 129 vừa nêu ghi nhận: “giao cho Phòng Quản lý đô thị quận T hướng dẫn cho bà Lâm Thị Thu N (đại diện gia đình) lập thủ tục hợp thức hóa một phần (gồm tầng trệt và lầu 1) nhà số 116 theo đúng hiện trạng sử dụng đất từ trước tới nay.
Dựa theo nội dung trên, bà Lâm Thị Thu N đã tiến hành làm thủ tục hợp thức hóa và đã ký Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất ở số 41/HĐMBNƠ.1 ngày 16/01/2010 với Phòng Quản lý đô thị quận T. Ngày 17/12/2010, Ủy ban nhân dân quận T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH00498/GCN cho bà Lâm Thị Thu N. Đến ngày 08/5/2017, bà Lâm Thị Thu L nhận chuyển nhượng căn nhà trên từ bà N theo Hợp đồng mua bán căn hộ số 018342 ngày 08/5/2017 lập tại Phòng công chứng số 4 Thành phố C2. Bà L sau đó đã được cập nhật tên trên giấy chứng nhận theo hồ sơ đăng ký biến động số 4583/2017 ngày 22/5/2017.
Phía bị đơn trình bày quá trình ở chung bị đơn biết việc nhà được tạm cấp cho bà Đ từ những năm 1980 nhưng không biết việc nhà sau đó được cấp cho bà N và hiện bà L đang đứng tên trên giấy chứng nhận. Xét thấy, kể từ thời điểm bà Đ được cấp nhà đến thời điểm nguyên đơn được cấp Giấy chứng nhận cho đến nay, bị đơn không có khiếu nại hay tranh chấp gì đối với căn nhà. Như vậy cho thấy, việc mua bán nhà giữa bà N và bà L đã hoàn thành và xác lập chuyển quyền sở hữu sang cho Lâm Thị Thu L. Theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Nhà ở năm 2014 thì căn nhà này đã được pháp luật công nhận quyền sở hữu cho bà L.
[3.2] Về việc cho ở nhờ, tại biên bản bàn giao nhà ngày 24/5/2017, các bên ghi nhận hiện trạng “nhà thực tế đang có gia đình các con ông Bùi Văn M1 ở nhờ (ở từ năm 1977)”. Phía bị đơn cũng thừa nhận ở tại tầng 1 nhà này từ trước năm 1980, bị đơn trình bày biết việc bà Đ được nhà nước cấp nhà nhưng không biết việc bà Đ cho gia đình ông M1 (ông ngoại) ở nhờ. Bị đơn khẳng định căn nhà này gia đình ở từ trước tới nay thuộc diện nhà nước cho ở nhờ và đã được cơ quan có thẩm quyền cấp sổ hộ khẩu từ lâu.
Theo khoản 2 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. 4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Theo tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án thì bị đơn không đưa ra được chứng cứ để chứng minh tầng 1 (trệt) căn nhà A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản thuộc sở hữu của bị đơn. Ngược lại, phía nguyên đơn xuất trình được tài liệu, chứng cứ thể hiện căn nhà này thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn và nguyên đơn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo đúng quy định.
Xét thấy ý kiến của bị đơn chỉ xác định rằng bị đơn và những người trong nhà có thực tế cư trú từ trước chứ không chứng minh được quyền sở hữu đối với căn nhà đang ở, đồng thời cũng không tranh chấp quyền sở hữu nhà với nguyên đơn nên ý kiến này của bị đơn chỉ nhằm mục đích kéo dài thời gian để không thực hiện nghĩa vụ trả nhà cho nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận. Như vậy, lời trình bày của nguyên đơn về việc đã cho bị đơn ở nhờ nhà là có căn cứ nên với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại tầng 1 của căn nhà trên là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 164, khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 153, Điều 154 của Luật Nhà ở năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu đòi nhà này của nguyên đơn.
[3.3] Ngoài ra, theo xác minh của Công an Phường 2 quận T “Hiện nay, tại tầng 1 nhà số A B, Phường B, quận T Thành phố Hồ Chí Minh có 05 nhân khẩu thực tế: Bùi Nguyễn Trí B, sinh năm 2000; Bùi Thị Ngọc L1, sinh năm 1978; Bùi M, sinh năm 1982; Bùi Ngọc A, sinh năm 2005 và Bùi Thị Ngọc P, sinh năm 1972”. Do việc giải quyết vụ án có liên quan đến là những người đang thực tế ở trong căn nhà 116 Bùi Thị X nên cần buộc những người liên quan là bà Bùi Thị Ngọc L1, bà Bùi M, bà Bùi Thị Ngọc P và chị Bùi Ngọc A cùng có trách nhiệm với bị đơn phải trả lại nhà cho nguyên đơn.
[3.4] Về yêu cầu bị đơn phải trả nhà trong thời hạn 30 ngày của nguyên đơn, xét thấy việc bị đơn ở nhờ đã lâu, phía nguyên đơn đã thông báo đòi nhà nhưng bị đơn không hợp tác làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn: buộc bị đơn và những người liên quan phải trả nhà cho nguyên đơn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[4] Tại phiên tòa, phía bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cho bà L, cũng không có yêu cầu bà L bồi thường hay hỗ trợ trong trường hợp phải dọn ra khỏi nhà nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đương sự được quyền khởi kiện giải quyết ở vụ án khác khi có yêu cầu.
[5] Về chi phí tố tụng: Xét việc nguyên đơn đồng ý chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000 đồng đã tạm ứng là tự nguyện; bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không có ý kiến về chi phí này nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
[6] Như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
Hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, Điều 91, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 164 và khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 8, 9, 10, 12, khoản 1 Điều 153 và Điều 154 của Luật Nhà ở năm 2014;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Lâm Thị Thu L:
Buộc ông Bùi Nguyễn Trí B và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị Ngọc L1, bà Bùi M, bà Bùi Thị Ngọc P và chị Bùi Ngọc A (cùng những người khác có mặt trong căn nhà tại thời điểm thi hành án), phải di dời toàn bộ các vật dụng, tài sản ra khỏi nhà để trả lại cho bà Lâm Thị Thu L căn nhà tại Tầng A (trệt) nhà số A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 013023, số vào sổ cấp GCN: CH00498 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/12/2010, cập nhật tên cho bà Lâm Thị Thu L theo hồ sơ đăng ký biến động số 4583/2017 ngày 22/5/2017).
Thực hiện trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Lâm Thị Thu L về việc tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
3. Về án phí: Ông Bùi Nguyễn Trí B phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
Hoàn lại cho bà Lâm Thị Thu L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008716 ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hiếu |
Bản án số 658/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ
- Số bản án: 658/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm Thị Thu L - Bùi Nguyễn Trí B
