|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 657/2024/ HNGĐ-ST Ngày 29-7-2024 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Sỹ.
- Ông Nguyễn Ron.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thành Thi – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 412/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình T, nơi cư trú: Tổ D, khu phố H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T1, nơi cư trú: Tổ D, khu phố H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Đình T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Thanh T1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T vào ngày 24-7-1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T1 có quan hệ bất chính với người đàn ông khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Vợ chồng anh đã bắt đầu ly thân từ năm 2010 đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, mạnh ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc cho nhau, nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Vợ chồng anh có 02 con chung là Nguyễn Ngọc T2 (sinh ngày 25-8-2000) và Nguyễn Ngọc Thảo N (sinh ngày 10-3-2005). Hiện nay, các con đã trưởng thành, sức khỏe bình thường, nên anh không yêu cầu giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, hai bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng anh không có nợ chung.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1 đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa và cũng không cung cấp văn bản nêu ý kiến, các tài liệu, chứng cứ có liên quan.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- -Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh T1.
- -Về con chung: Không xem xét.
- - Về tài sản chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn anh Nguyễn Đình T yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh T1. Tại phiên tòa lần thứ hai hôm nay, chị Nguyễn Thị Thanh T1 tiếp tục vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ; anh Nguyễn Đình T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án hôn nhân gia đình có quan hệ pháp luật là “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định và phiên tòa vẫn tiến hành xét xử theo quy định.
[2] Anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Thị Thanh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T vào ngày 24-7-1999, nên hôn nhân giữa anh T và chị T1 là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh T, chị T1 phát sinh mâu thuẫn từ năm 2010 và cũng đã bắt đầu sống ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo lời khai của anh T là do chị T1 có quan hệ bất chính với người đàn ông khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Tòa án đã tiến hành xác minh đồng thời thông báo và nhiều lần triệu tập chị T1 đến Tòa làm việc nhưng chị T1 cố tình lẩn tránh, không cung cấp văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của anh T. Mặc dù lời khai của anh T chưa đủ căn cứ để khẳng định chị T1 có quan hệ bất chính không, nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy có sự tranh chấp cãi vã trong quá trình chung sống giữa anh T và chị T1. Trên thực tế, anh T và chị T1 đã không còn chung sống, không còn tình cảm và trách nhiệm với nhau. Sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng nêu trên đã làm cho hôn nhân giữa anh T và chị T1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh T và chị T1 được ly hôn.
[3] Anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Thị Thanh T1 có 02 con chung là Nguyễn Ngọc T2 (sinh ngày 25-8-2000) và Nguyễn Ngọc Thảo N (sinh ngày 10-3-2005). Hiện nay, các con đều đã trưởng thành, sức khỏe bình thường; anh T không yêu cầu giải quyết về nuôi con; cho nên, Hội đồng xét xử không xem xét
[4] Về tài sản, do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Thị Thanh T1.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đình T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000967 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Trần Duyên Anh |
Bản án số 657/2024/ HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 657/2024/ HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh T và chị T1 ly hôn
