Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 657/2025/HS-PT

Ngày: 23 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
  • Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
  • Bà Bùi Thị Thu
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 371/2025/TLPT-HS ngày 20/10/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị hại Phạm Văn T1 đối với bản án hình sự số 439/2025/HS-ST ngày 12/8/2025 của Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và Tên Nguyễn Văn T, sinh năm 1981 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: số I đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

  • Năm 2006, bị Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 16/HSST ngày 17/01/2006.
  • Năm 2008, bị Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 06 ngày tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 56/2008/HSST ngày 29/7/2008;
  • Năm 2014, bị Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 266/2014/HSST ngày 16/7/2014;
  • Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13 tháng 02 năm 2025 cho đến nay, bị cáo đang chấp hành án nên vắng mặt.

- Bị hại có kháng cáo:

Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số E, đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Bà Phạm Thị Hải D; Nơi cứ trú: Phụng Chánh 2, V, P, Thừa Thiên H1 (nay là xã V, Thành phố H, vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị X; Nơi cư trú: K, thị trấn K, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là xã K, tỉnh Quảng Trị, có mặt).
  3. Bà Nguyễn Ngọc Như Ý; Nơi cư trú: số E, khu phố Đ, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

(Ngoài ra, vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng do không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng năm 2020, Nguyễn Văn T làm nghề môi giới bất động sản tại khu vực thành phố D, tỉnh Bình Dương, T đã đưa ra thông tin gian dối về nguồn gốc của 02 căn nhà được xây dựng trên 02 thửa đất có cùng diện tích 48m², tại khu phố T và khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để chiếm đoạt tài sản của các bị hại, cụ thể như sau:

Vụ 1:

Ông Nguyễn Minh T2 là chủ sử dụng diện tích 1.158,7m² đất tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp ngày 27/6/2003, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số 1986 QSDĐ/TB. Phần diện tích đất trên được ông M Tân tự phân ra thành nhiều thửa đất nhỏ để bán lại cho người khác theo hình thức lập Hợp đồng mua bán viết tay. Trong đó có thửa đất 48m² (4m x12m) được ông Minh T2 bán cho T2 vào ngày 02/9/2009 theo Hợp đồng mua bán viết tay giá 50.000.000 đồng. Sau khi mua thửa đất trên, T2 xây dựng nhà cấp 4 để ở.

Ngày 18/9/2020, thông qua môi giới bà Nguyễn Thị K mua căn nhà và thửa đất nêu trên của T2 với giá 900.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận, T2 và bà K đến Văn phòng T3 ký Hợp đồng mua bán và lập Vi bằng số 853, quyển số 01-2020/VB ngày 18/9/2020 ghi nhận việc mua bán và giao nhận tiền. Sau khi bán nhà đất cho bà K, T2 thỏa thuận thuê lại căn nhà để ở, thời gian 03 tháng (từ ngày 18/9/2020 đến ngày 18/12/2020) và giữa T2 và bà K lập Hợp đồng thuê nhà để ghi nhận thỏa thuận trên. Trong thời gian thuê nhà của bà K, T2 làm giả Hợp đồng mua bán đất giữa T2 với ông M Tân lập ngày 02/9/2009 đối với thửa đất trên đưa cho ông Phạm Văn T1 và nói nhà và thửa đất trên là của T2 làm chủ sở hữu. Do tin tưởng nên ông T1 đồng ý mua nhà đất với giá 1.000.000.000 đồng. Ngày 02/11/2020, ông T1 và Tân lập Hợp đồng mua bán nhà đất, đồng thời yêu cầu Văn phòng T4 lập Vi bằng số 598/2020/VB-TPL ngày 02/11/2020 để ghi nhận việc mua bán và giao nhận tiền. Sau khi ký hợp đồng xong thì T2 giao nhà đất cho ông T1 quản lý, sử dụng.

Đến khi gần hết hạn thuê nhà, bà K không liên lạc được với T2 nên bà K đến căn nhà trên thì gặp ông T1 và bà K biết được T2 đã lừa dối ông T1 để bán nhà đất nên bà K đã tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D.

Vụ 2:

Bà Lê Thị C là chủ sử dụng đối với phần diện tích 3.468m², thuộc thửa đất số 600C, tờ bản đồ C2, tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Ngày 24/10/2015, bà C cùng chồng Nguyễn Văn M ủy quyền toàn phần thửa đất trên cho ông Ngô Hoàng L theo Hợp đồng ủy quyền số 9459 của Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương. Sau khi nhận ủy quyền, ông L tách phần diện tích đất trên thành nhiều thửa đất nhỏ để xây nhà bán lại cho người khác. Trong đó có thửa đất 48m² (4m x 12m) được ông L xây nhà 01 trệt 01 lầu bán cho bà Đoàn Thị Khánh L1 với giá 440.000.000 đồng theo Vi bằng số 193/2016/VB-TPL do Văn phòng T4 lập ngày 07/4/2016.

Vào tháng 5/2020, vợ chồng ông Đặng Quốc D1, bà Trần Thị Mỹ N1 thỏa thuận mua lại nhà đất của bà L1 với giá 1.040.000.000 đồng. Do quen biết với T2 nên ông D1 nhờ T2 ký hợp đồng đặt cọc với bà L1 và nhờ T2 tìm người mua lại nhà đất. Ngày 13/5/2020, ông D1 giao cho T2 150.000.000 đồng để đặt cọc cho bà L1, T2 giao tiền cho bà L1 và đưa Hợp đồng đặt cọc (chưa ghi nội dung thông tin) và kêu bà L1 ký, sau khi ký xong T2 nói bận công việc gấp nên bỏ đi và cầm theo Hợp đồng đặt cọc. T2 tự điền thông tin đặt cọc mua bán căn nhà trên giữa bà L1 với T2, thể hiện T2 đã thanh toán 1.040.000.000 đồng cho bà L1, rồi đưa cho ông Lê Công Q xem và nói với ông Q nhà đất trên là của T2 đã mua của bà L1 và yêu cầu được thế chấp cho ông Q để vay 500.000.000 đồng. Ông Q đồng ý nên ngày 19/6/2020, giữa T2 và ông Q lập Văn bản thỏa thuận mua bán và Vi bằng số 490, quyển số 01-2020/VB tại Văn phòng T3, tỉnh Bình Dương để ghi nhận thỏa thuận mua bán. Đồng thời, T2 giao lại nhà đất cho ông Q quản lý, sử dụng. Đến ngày 28/7/2020, ông Q bán nhà đất cho ông Nguyễn Đức V với giá 1.050.000.000 đồng, ngày 10/11/2020, ông V bán lại cho bà Phan Thị H2 với giá 1.050.000.000 đồng.

Đối với ông D1, bà N1, sau khi nhờ T2 đặt cọc với bà L1, đến ngày 20/06/2020, bà N1 và ông D1 đã thanh toán đầy đủ tiền cho bà L1 và hai bên tiến hành ký kết Hợp đồng mua bán căn nhà trên bà L1 giao lại cho ông D1 và bà N1 hợp đồng mua bán và Vi bằng giữa bà L1 với ông L cho ông D1 và bà N1 cất giữ. Đến tháng 01 năm 2021, ông D1 phát hiện nhà đất T2 bán cho ông Q nên đã gửi đơn tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D.

Đối với Nguyễn Văn T đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, đến ngày 13/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) bắt tạm giam tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Tại Cơ quan điều tra, T thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 297 ngày 09/7/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) kết luận: Chữ ký và dấu vân tay tên “Nguyễn Văn T” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 đến A11) so với chữ ký và dấu vân tay ngón trỏ trái, trỏ phải của Nguyễn Văn T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1 đến M3) do cùng một người ký và in ra.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 268 ngày 07/07/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) kết luận:

  1. Chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay tên “Nguyễn Minh T2” trên “Hợp đồng”, ngày 02/9/2009 (ký hiệu A1) so với chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay ngón trỏ phải của Nguyễn Minh T2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M7) do cùng một người ký, viết và in ra.
  2. Chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay tên “Nguyễn Minh T2” trên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, ngày 09/10/2019 (ký hiệu A2) so với chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay của Nguyễn Minh T2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M7), không phải do cùng một người ký, viết và in ra.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 539 ngày 18/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên và 02 dấu vân tay tên “Đoàn Thị Khánh L1” dưới mục “Bên A (Bên bán)”, “Đại diện bên A” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 và A2) so với chữ ký, chữ viết và dấu vân tay ngón trỏ trái, ngón trỏ phải của Đoàn Thị Khánh L1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M8) do cùng một người ký, viết và in ra.

Về thu giữ đồ vật, tài liệu: 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y22, 01 căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Văn T.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Văn T1 yêu cầu bị cáo T trả 1.000.000.000 đồng, ông Lê Công Q yêu cầu bị cáo T trả 900.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự số 439/2025/HS-ST ngày 12/8/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 02 năm 2025.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; buộc bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường cho: ông Phạm Văn T1 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, ông Lê Công Q số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về việc xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

- Ngày 22/8/2025, bị hại Phạm Văn T1 đã có đơn kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Đại diện hợp pháp của bị hại T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng cho ông nhận căn nhà đã chuyển nhượng, vì đây là tài sản quan trọng của gia đình đang sinh sống từ khi nhận chuyển nhượng đến nay.
  • - Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ, tội danh, hình phạt và trách nhiệm dân sự như Bản án sơ thẩm đã xét xử, thể hiện:

Từ ngày 19/6/2020 đến ngày 02/11/2020 bị cáo Nguyễn Văn T (làm nghề môi giới bất động sản) đưa ra thông tin gian dối về nguồn gốc nhà đất của 02 căn nhà được xây dựng trên 02 thửa đất có cùng diện tích 48m², tại khu phố T và khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để bán lại nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại gồm: ông Phạm Văn T1 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, ông Lê Công Q số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, bản án sơ thẩm không tuyên bố tội danh của bị cáo là thiếu sót; Cấp phúc thẩm tuyên lại cho đúng với hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán, TAND tối cao.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T không kháng cáo. Do đó, phần tội danh, hình phạt của bị cáo, cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét.

[2]. Xét kháng cáo phần trách nhiệm dân sự của bị hại Phạm Văn T1, thấy rằng:

Căn nhà cấp 4 trên thửa đất 48m² mà bị cáo chuyển nhượng cho bị hại T1 với giá 1 tỷ đồng vào ngày 02/11/2020, là trước đó vào ngày 18/9/2020 bị cáo đã bán căn nhà, đất trên cho bà Nguyễn Thị K với giá 900 triệu đồng; các bên đã lập Hợp đồng mua bán, lập vi bằng, đã giao đủ tiền, nhận nhà. Sau khi bán nhà đất cho bà K, bị cáo T thuê lại và làm giả Hợp đồng mua bán thể hiện bị cáo vẫn còn là chủ sở hữu để tiếp tục bán cho bị hại T1. Đến khi hết hợp đồng thuê nhà 3 tháng, bà K mới phát hiện bị cáo T lừa dối bán nhà cho ông T1 nên đã tố cáo ra Công an thành phố D.

Như vậy, căn nhà đất nêu trên là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị K đã nhận chuyển nhượng trước đó; Hành vi bị cáo làm giả hợp đồng mua bán thể hiện bị cáo vẫn còn là chủ sở hữu để tiếp tục bán cho bị hại T1 là hành vi lừa đảo và đang bị xử lý hình sự. Tòa án sơ thẩm, buộc bị cáo phải trả lại cho bị hại T1 số tiền đã chiếm đoạt 01 tỷ đồng là đúng quy định pháp luật, phù hợp với nguyện vọng, yêu cầu của bị hại T1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm.

Quan điểm của Viện công tố và xét xử phúc thẩm đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị hại T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Phạm Văn T1; Giữ nguyên Bản án hình sự số 439/2025/HS-ST ngày 12/8/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (mười bốn) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 02 năm 2025.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường cho: ông Phạm Văn T1 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, ông Lê Công Q số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.

  4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị hại Phạm Văn T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VCT&KSXXPT VKSNDTC tại Tp.HCM (1);
  • - TAND TP.HCM (1);
  • - VKSND TP.HCM (1);
  • - THADS TP.HCM (1);
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Trại tạm giam Công an TP.HCM;
  • - Công an TP.HCM (1);
  • - Lưu VP 5b – 16b NThuy.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 657/2025/HS-PT ngày 23/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự

  • Số bản án: 657/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: do có kháng cáo của bị hại Phạm Văn T đối với bản án hình sự số 439/2025/HS-ST ngày 12/8/2025 của Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger