|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 657/2025/DS-PT
Ngày: 12-6-2025
V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Uông Văn Tuấn
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hòa
Bà Phạm Thị Kim
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 420/2025/TLPT ngày 10 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2236/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 7022/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Ông Trần Phước C, sinh năm 1963;
Thường trú: 761 ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: 553 T T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1981 (có mặt).
Địa chỉ: I H, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Trần Thị Phước T, sinh năm 1965;
Địa chỉ: E ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoàng N, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: B P, phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đặng Thụy Phương T1 – Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thu N1, sinh năm 1963 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: E T T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ: A ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Trần Phước C có bà Nguyễn Thị M đại diện trình bày:
Vợ chồng ông Trần Phước C và bà Nguyễn Thu N1 có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để phục vụ cho mục đích kinh doanh của công ty do ông C làm chủ khi cần. Do có quy định về giới hạn điền thổ nên vợ, chồng ông Trần Phước C có nhờ các chị em ruột là bà Trần Thị Phước T đứng tên giùm một số thửa đất, trong đó có thửa đất số 139, 114, tờ bản đồ số 03, diện tích 4212m², tọa lạc tại xã L, huyện C, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp H02162 do UBND huyện C cấp ngày 11/03/2008 cho bà Trần Thị Phước T.
Nguồn gốc đất là của ông Huỳnh Minh N2 và bà Huỳnh Thị Á chuyển nhượng cho ông Trần Phước C và bà Nguyễn Thu N1 vào tháng 01 năm 2008, giá chuyển nhượng là 35.000 đồng/m², tổng số tiền chuyển nhượng theo hợp đồng là 147.420.000 đồng.
Do ông Trần Phước C và bà Nguyễn Thu N1 nhờ bà Trần Thị Phước T đại diện đứng tên giùm nên bà Thế là người ký hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng, nộp thuế, phí liên quan đến việc chuyển nhượng phần đất trên, cũng như đứng tên trên Giấy chứng nhận cho ông Trần Phước C và bà Nguyễn Thu N1. Số tiền ban đầu tạm tính là 153.000.000 đồng, ông Trần Phước C và bà Nguyễn Thu N1 đã đưa cho bà T 153.000.000 đồng. Sau khi tính toán lại thì tổng số tiền phải chi cho việc chuyển nhượng đất trên là 147.420.000 đồng, tiền thuế phí là 2.729.000 đồng. Tổng số tiền là 150.149.400 đồng, tiền dư bà T trả lại cho ông Trần Phước C và bà Nguyễn Thu N1 là 2.850.000 đồng, chữ viết, chữ ký nhận 153.000.000 đồng là do bà T viết và ký nhận. Phần tính giá trị thực tế chuyển nhượng và chi phí phát sinh là do bà Nguyễn Thu N1 viết trong giấy nhận tiền ngày 11/04/2008; vì ông C là con thứ 5 trong gia đình nên anh, chị em trong nhà gọi là anh N3. Bà N1 là vợ ông C nên anh chị em trong gia đình gọi là chị N3 (Về nội dung này bà T xác nhận trong bản khai số tiền nhận ngày 11/04/2008).
Sau khi hoàn tất việc chuyển nhượng, ngày 11/03/2008 UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H02162 cho bà Trần Thị Phước T đứng tên. Sau khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T đã giao trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Hợp đồng đặt cọc ngày 12/01/2008 giữa bên bán là ông Huỳnh Minh N4, bà Huỳnh Thị A với bên
mua là bà T, cho ông C cất giữ. Hiện nay, ông C và bà N1 đang giữ giấy tờ gốc và quản lý, khai thác, sử dụng phần đất này từ trước cho đến nay.
Vợ, chồng ông C và bà N1 là người đã nhiều lần thuê anh Nguyễn Văn S, (Trú tại số A, ấp Đ, L, C, Long An. Địa chỉ liên lạc: ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) đào ao, bồi đắp mới được như hiện tại. Từ năm 2016 thì chính thức thuê ông S trông coi đất, mỗi tháng trả 2.000.000 đồng, giữa hai bên có lập Hợp đồng thuê người giữ đất ngày 16/04/2016. Ngày 25/01/2021, bà N1 có ký Hợp đồng thi công cơ giới, thuê ông S tiến hành san lấp bờ ao tại thửa đất nêu trên với giá 30.000.000 đồng. Sau đó ông S nuôi cua, cá.... nên ngoài việc trông coi đất, mỗi lần vét ao và thả cua, cá, cho ăn, và đánh bắt thì đều trả cho ông S thêm tiền như theo thỏa thuận.
Như vậy, bà T không phải là chủ sử dụng đất thật sự nên mới phải giao bản chính giấy đất và các giấy tờ liên quan cho vợ, chồng ông C.
Vào tháng 03 năm 2021, ông C nhiều lần yêu cầu bà Thế ra phòng công chứng làm thủ tục sang tên lại cho vợ, chồng ông C nhưng bà T không thực hiện. Ngược lại bà T còn làm thủ tục báo mất giấy đất để xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà, việc làm này của bà Thế L không đúng nên ông C làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc bà Trần Thị Phước T trả lại cho ông C phần đất có diện tích tại thửa 139, 114, bản đồ 03 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371 số vào sổ H02162 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 11/03/2008.
- - Kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 11/03/2008 và cho ông Trần Phước C làm thủ tục đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên.
Ngoài ra, nguyên đơn không đồng ý yêu cầu phản tố của bị đơn.
Bị đơn bà Trần Thị Phước T, đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày:
Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ngày 12/01/2008 không phải là chữ ký của bị đơn, ông C cung cấp hợp đồng đặt cọc là giả mạo, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng vào thời điểm bị đơn nhận chuyển nhượng.
Đối với số tiền 153.000.000 đồng, ông C trình bày có đưa cho bà T để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là không có cơ sở, vì không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện nội dung như lời trình bày của ông C.
Sau khi bà T được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà T có mang bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về nhà cất giữ. Nhưng đến ngày 21/04/2021, bà T có di chuyển trên đoạn đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bà T đã đánh rơi 01 túi xách trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên nên làm đơn xin có mất.
pháp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H02162, ngày 11/03/2008 và ông C đã ngăn chặn việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T.
Theo nội dung của số tiền 153.000.000 đồng trong giấy do nguyên đơn trình bày, là bà T ký nhận của anh N3 chị N3 chứ không phải của ông C (Giấy nhận tiền, ngày 11/04/2008 của nguyên đơn ông C cung cấp). Việc ông C đưa ra giấy nhận tiền nêu trên và trình bày nội dung là bà T giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ, chồng ông C, bà N1 giữ là hoàn toàn bịa đặt và gây khó khăn cho bà T xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên bà T không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông C.
Bị đơn bà T có yêu cầu phản tố buộc ông Trần Phước C trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371, số vào sổ cấp H02162 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 11/03/2008, tại thửa 139, 144, tờ bản đồ 03, tọa lạc xã L, huyện C cho bà Trần Thị Phước T.
Trường hợp ông Trần Phước C không giao trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, thì bà Trần Thị Phước T được quyền liên hệ đến UBND huyện C để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thu N1 trình bày:
Bà N1 là vợ của ông Nguyễn Phước C1, các ý kiến của bà như lời trình bày của nguyên đơn ông C1, bà N1 có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà cho đến khi vụ án được giải quyết kết thúc.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn S trình bày:
Từ năm 2012 bà N1 là vợ ông C1 có nhiều lần nhờ ông dọn cỏ, phát cây, khai thông dòng chảy, be bờ, đào ao... để thả cá, tôm, cua và trả công ngày theo công việc thuê mướn tại phần đất tranh chấp trên. Từ năm 2016, thấy nhiều người từ Thành phố xuống C tìm mua đất sợ bị ảnh hưởng, trồng lấn ranh, mất đất nên bà N1 chính thức thuê ông trông coi thửa đất này như lời trình bày của ông C1, bà N1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, quyết định:
1.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Phước C:
- - Buộc bà Trần Thị Phước T trả lại cho ông Trần Phước C phần đất có diện tích tại thửa 139, 114, tờ bản đồ 03, tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371, số vào sổ H02162 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 11/03/2008.
- - Ông Trần Phước C được quyền liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, để sang tên cho ông Trần Phước C theo quy định pháp luật. Thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
(Về diện tích đất được cấp cho ông Trần Phước C được thực hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H, kiểm tra nội nghiệp ngày 13/9/2023).
1.2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Phước T buộc ông Trần Phước C trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371, số vào sổ cấp H02162 do Ủy ban nhân dân huyện C, cấp ngày 11/03/2008, tại thửa 139, 144, tờ bản đồ 03, tọa lạc xã L, huyện C cho bà T; bà Trần Thị Phước T không được quyền liên hệ đến Cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/9/2024, bà Trần Thị Phước T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phước C, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T buộc ông C trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Ý kiến của Luật sư Phương T1 bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn:
Nguyên đơn - ông C không cung cấp được tài liệu chứng minh việc bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giùm ông C và bà N1. Số tiền 153.000.000 đồng, bà T ký nhận trong giấy nhận tiền ngày 11/4/2008 là để mua vật tư cho Công ty T4, thời điểm đó bà Thế L thủ kho công ty. Bà thế không thừa nhận Hợp đồng ngày 12/01/2008, theo Hợp đồng ngày 30/01/2008 thì số tiền chuyển nhượng là 85.000.000 đồng, Bà T ký nhận tiền ngày 11/4/2008, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 30/01/2008, giấy nhận tiền không thể hiện nội dung nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất giùm ông C và bà N1.
Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thì không có công trình xây dựng trên đất, không có cơ sở xác định ông S trong coi đất cho ông C. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào chi tiết bà N1 ghi như giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 147.420.000 đồng, tiền thuế phí 2.729.000 đồng, tổng cộng là 150.140.000 đồng và trả lại cho ông C số tiền 2.850.000 đồng trên giấy nhận tiền (không có xác nhận của bà T) để xác định bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giùm ông C là không phù hợp với tình tiết khách quan trong vụ án.
Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T buộc ông Trần Phước C trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T. Trường hợp ông C không trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà thế được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- - Ông N đại diện bà T không bổ sung thêm.
- - Bà M đại diện nguyên đơn trình bày:
Bà T có nhận của ông C và bà N1 số tiền tạm tính là 153.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giùm ông C và bà N1. Bà Á và ông N4 là chủ sở hữu và sử dụng đất xác nhận chuyển nhượng đất cho ông C và bà N1. Lời khai của ông C và bà N1 phù hợp với lời khai của bà Á và ông N4, phù hợp với nội dung bà N1 ghi chi tiết trên giấy nhận tiền ngày 11/4/2008 “Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 147.420.000 đồng, tiền thuế phí 2.729.000 đồng, tổng cộng là 150.140.000 đồng và trả lại cho ông C số tiền 2.850.000 đồng”. Chính vì đứng tên giùm nên sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà N1 đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định ông C và bà N1 có nhờ bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giùm. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà N1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2] Nguyên đơn - ông C yêu cầu bà T trả diện tích 4.212m² thuộc các thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03, tọa lạc tại xã L, huyện C.
2.1. Xét, Giấy nhận tiền đề ngày 11/4/2008 có nội dung: “Đã nhận anh N3 chị N3 tất cả là: 153.000.000 đồng”.
Theo ông C và bà N1, bà T nhận của ông C và bà N1 số tiền 153.000.000 đồng để thanh toán tiền nhận chuyển nhượng diện tích 4.212m² thuộc các thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03, tọa lạc tại xã L, huyện C giùm ông C và bà N1.
Tại Bản tự khai ngày 18/7/2024, ông Trần Hoàng N đại diện cho bà T trình bày “số tiền 153.000.000 đồng theo Giấy nhận tiền ngày 11/4/2008 là bà T ký nhận của anh N3, chị N3 chứ không phải của nguyên đơn ông Trần Phước C”. Tuy nhiên, tại Biên bản làm việc ngày 18/7/2024 ông Trần Hoàng N đại diện cho bà T trình bày “...mục đích bà T ghi, ký nhận số tiền 153.000.000
đồng trên tờ Giấy nhận tiền đề ngày 11/4/2008 là chốt nhận số tiền với ông C, bà N1 để thanh toán tiền mua vật tư công trình làm dự án tại huyện C”. Tại Phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Hoàng N xác nhận anh N3 chị N3 chính là ông C và bà N1, và thừa nhận bà T có nhận của ông C và bà N1 số tiền 153.000.000 đồng.
Ngoài ra, bà Trần Thị Á1, bà Trần Thị Phước M1 và bà Trần Thị Phước T2 là chị, em ruột của ông C với bà T. Văn bản xác nhận ông C là người thứ 5 trong gia đình nên thường gọi là anh/em Năm. Điều đó chứng tỏ rằng tên gọi anh N3, chị N3 ghi trên giấy nhận tiền do bị đơn bà T ký, viết ngày 11/4/2008 là tên của vợ, chồng ông C và bà N1.
Như vậy, có cơ sở khẳng định bà T có nhận của ông C và bà N1 số tiền 153.000.000 đồng.
2.2. Đối với số tiền 153.000.000 đồng, bà N1 ghi chi tiết trên tờ giấy nhận tiền đề ngày 11/4/2008, có diễn giải nội dung: Bà T đã nhận tiền của ông C và bà N1 là để mua phần đất có diện tích 4212m² x 35.000 đồng, tổng tiền mua đất là 147.420.000 đồng, tiền thuế 2.729.400 đồng (như vậy tổng số tiền mua đất cộng với thuế là 150.149.400 đồng), T3 (là bà T) còn thiếu chị 5 là 2.850.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2008 giữa bên bán là bà Huỳnh Thị Á, ông Huỳnh Minh N4, bên mua là bà Trần Thị Phước T có nội dung thỏa thuận chuyển nhượng diện tích đất 4.212m² thuộc các thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03, với số tiền chuyển nhượng là 35.000.000 đồng/1000m², tổng giá trị chuyển nhượng là 147.420.000 đồng.
Phía ông Trần Hoàng N đại diện cho bà T không thừa nhận chữ viết và chữ ký trong Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2008 là của bà T. Mặc dù đã được Tòa án giải thích, nhưng ông Trần Hoàng N không yêu cầu giám định.
Đại diện ủy quyền cho bà T cho biết trước khi lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì giữa bên mua và bên bán có lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với số tiền là 170.000.000 đồng, không phải số tiền 147.420.000 đồng. Tuy nhiên, ông Trần Hoàng N đại diện cho bà T không cung cấp được hợp đồng đặt cọc.
Ngoài ra, ông Trần Hoàng N đại diện cho bà T cho rằng số tiền 153.000.000 đồng bà T nhận từ ông C và bà N1 là tiền mua vật tư để làm công trình cho Công ty T4, nhưng ông Trần Hoàng N không cung cấp tài liệu để chứng minh mua vật tư cho Công ty T4.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/9/2024, bà Á và ông N4 là người chuyển nhượng đất khai chuyển nhượng cho bà N1 là vợ ông C phần đất có diện tích 4.212m² thuộc các thửa 139 và 114, bản đồ 03 tọa lạc tại xã L, người đứng tên Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là bà T, số tiền bán đất là 35.000.000 đồng/1000m², tổng số tiền là 147.420.000 đồng. Tại thời điểm chuyển nhượng, bà Á và ông N4 biết được bà Thế là người đứng tên giùm ông C và bà N1. Số tiền chuyển nhượng thực tế ghi trong hợp đồng đặt cọc là 147.420.000 đồng.
Hơn nữa, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T thể hiện Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất và Giấy nộp tiền thuế có ghi số tiền thuế trước bạ phải nộp là 2.729.400 đồng.
Như vậy, thực tế số tiền chuyển nhượng đất là 147.420.000 đồng, tiền thuế là 2.729.400 đồng ghi trong hợp đồng phù hợp với nội dung bà N1 diễn giải trên tờ giấy nhận tiền do bà T ký, viết đề ngày 11/4/2008.
2.4. Theo ông S là người quản lý, trông giữ phần đất có diện tích 4.212m² tại thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03 tọa lạc tại xã L. Bà N1 là người cho ông thuê trông giữ, quản lý, canh tác: dọn cỏ, phát cây, khai thông dòng chảy, be bờ, đào ao... để thả cá, tôm, cua và được bà N1 trả công từ năm 2012 cho đến nay. Như vậy, diện tích 4.212m² tại thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03 tọa lạc tại xã L do ông C, bà N1 đang quản lý, sử dụng.
2.5. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Hoàng N đại diện cho bà T xác nhận bà T đưa cho ông C bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371 số vào sổ H02162 ngày 11/03/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trần Thị Phước T.
Xét thấy: Ông C và bà N1 là người bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng diện tích 4.212m² thuộc các thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03 tọa lạc tại xã L và bà T không phải là chủ sở hữu và sử dụng đất thật sự nên bà T mới đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất cho ông C và bà N1.
[3] Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định ông C và bà N1 nhờ bà T nhận chuyển nhượng diện tích 4.212m² thuộc các thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03 tọa lạc tại xã L, huyện C. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T trả cho ông C và bà N1 diện tích 4.212m² thuộc các thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03 tọa lạc tại xã L, huyện C là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Bà T yêu cầu ông C và bà N1 trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử xét thấy:
Như trên đã nhận định, bà Thế là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 4.212m² thuộc các thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03 tọa lạc tại xã L, huyện C giùm ông C và bà N1 và bà T không phải là chủ sở hữu và sử dụng đất nên bà T yêu cầu ông C và bà N1 trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371, số vào sổ cấp H02162 ngày 11/03/2008 là không có cơ sở chấp nhận.
[5]. Theo Bản đồ hiện trạng được Trung tâm đo đạc bản đồ Sở T kiểm tra nội nghiệp ngày 13/3/2023, diện tích đất hiện nay là 4.073,2m², có giảm so với diện tích được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các đương sự đồng ý, không ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với phần đất hết hạn sử dụng từ tháng 01 năm 2016, theo Công văn số 6051/CNCG ngày 08/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C thì người sử dụng đất được gia hạn sử dụng đất và thực hiện việc gia hạn đúng theo quy định pháp luật.
[6] Tại phiên tòa, ông N trình bày: Hiện nay bà T đã chuyển nhượng 4.212m² thuộc các thửa 139 và 114, tờ bản đồ 03 tọa lạc tại xã L, huyện C cho bà Huỳnh Thị Cẩm A với giá 2.300.000.000 đồng, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/5/2023 và đã nhận của bà Cẩm A số tiền 1.950.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T không phải là chủ sở hữu và sử dụng đất. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T với bà Cẩm A là không đúng quy định của pháp luật. Thực tế đất vẫn do ông C và bà N1 quản lý, sử dụng. Nếu có tranh chấp bà Cẩm A được quyền khởi kiện bà T trong vụ án khác.
[7] Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, lời trình bày của Luật sư Phương T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Bà Trần Thị Phước T sinh ngày 01/01/1965, đến ngày xét xử phúc thẩm bà T trên 60 tuổi, tại phiên tòa phúc thẩm ông N đại diện cho bà T có đơn xin miễn án phí. Do đó, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm về án phí, miễn án phí cho bà T theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hoàn trả cho bà Trần Thị Phước T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0034907 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 166, Điều 169 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 26, Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Phước T, sửa bản án sơ thẩm về án phí như sau:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Phước C:
- - Buộc bà Trần Thị Phước T trả lại cho ông Trần Phước C phần đất có diện tích tại thửa 139, 114, tờ bản đồ 03, tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371, số vào sổ H02162 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 11/03/2008.
- - Ông Trần Phước C được quyền liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, để sang tên cho ông Trần Phước C theo quy định pháp luật. Thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
(Về diện tích đất được cấp cho ông Trần Phước C được thực hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, kiểm tra nội nghiệp ngày 13/9/2023).
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Phước T về việc buộc ông Trần Phước C trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 056371, số vào sổ cấp H02162 do Ủy ban nhân dân huyện C, cấp ngày 11/03/2008, tại thửa 139, 144, tờ bản đồ 03, tọa lạc xã L, huyện C cho bà T.
3. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Trần Phước C chịu chi phí tố tụng, đo vẽ. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền chi phí tố tụng.
4. Về án phí: Bà Trần Thị Phước T được miễn án phí theo quy định.
Hoàn trả cho ông Trần Phước C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.985.500 đồng (Ba triệu chín trăm tám mươi lăm ngàn năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0046167, ngày 02 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn trả cho bà Trần Thị Phước T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0034907 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Uông Văn Tuấn |
Bản án số 657/2025/DS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 657/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Phước Thế, sửa bản án sơ thẩm về án phí
