Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 656/2023/HS-ST

Ngày: 29-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng
  2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường số 3- trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 616/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 611/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1228/2023/HSST-QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với:

- Bị cáo: Vũ Văn T (tên gọi khác: không); Giới tính: N, sinh năm 1981, tại Hưng Yên. Nơi cư trú: B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Họ tên cha: Vũ Văn B, sinh năm 1939 (đã chết). Họ tên mẹ: Trịnh Thị N1, sinh năm 1939 (đã chết). Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con út. Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1983. Bị cáo có 02 con sinh năm 2001 và 2004. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/08/2023 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Công ty TNHH S1 (V).

Đại diện theo pháp luật: Ông ANDRE WONG SIN HING – Giám đốc.

Địa chỉ: lô B, KCN A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền: ông Dương Thái S, sinh năm 1973.

1

Địa chỉ: D, tổ C, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung vụ án

Khoảng 07 giờ 30 ngày 27/3/2023, Vũ Văn T điều khiển xe mô tô Honda Vision màu xanh BKS: 60F1-760.60 từ nhà chở theo 09 vỏ hộp khẩu trang y tế bỏ vào túi nilon đến Công ty TNHH S1 (công ty S2) làm việc. Đến khoảng 16h30 lợi dụng lúc công nhân ít người Tý lén lút trộm cắp 12 cái quần Jean màu xanh (gồm 08 cái mã hàng J324386, 02 cái mã hàng J324379, 02 cái mã hàng J324363) bỏ vào trong bịch nilon để vào trong thùng giấy ngay chỗ T đứng làm. Đến khoảng 17 giờ 25 khi T tan ca ra về thì T lấy ra 09 quần Jean dấu vào 09 hộp khẩu trang y tế dán băng keo lại, 01 cái quần bỏ vào bịch nilon màu đen, 02 cái quần bỏ vào bịch nilon màu trắng rồi mang ra chỗ để xe. Tý treo 09 cái quần nơi chỗ để chân còn 03 cái còn lại bỏ vào cốp xe mô tô. Khi dắt xe ra đến cổng công ty thì bị bảo vệ kiểm tra phát hiện bắt giữ quả tang.

(Lời khai, biên bản hỏi cung bị can, bút lục số: 92-98; Lời khai của bị hại bút lục số: 29-33; Lời khai của nhân chứng bút lục số: 34-40; Biên bản kiểm tra dữ liệu Camera bút lục số: 75).

2. Về vật chứng của vụ án

  • - 12 cái quần Jean màu xanh (gồm 08 cái mã hàng J324386, 02 cái mã hàng J324379, 02 cái mã hàng J324363) đã trả lại cho công ty S2 (bút lục số 82).
  • - 01 DTDD hiệu OPPO A7; 01 CCCD mang tên Vũ Văn T không liên quan đến vụ án nên đã được trả lại cho Vũ Văn T.
  • - 01 xe mô tô biển số 60F1-760.60; 01 Giấy đăng ký xe mô tô 60F1-760.60; 01 chìa khoá xe mô tô T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên tiếp tục tạm giữ.
  • - 09 hộp khẩu trang, 03 bọc nilon trong đó 01 màu xanh, 01 màu trắng, 01 màu đen. T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên tiếp tục tạm giữ.
  • - 01 USB bên trong chứa 03 File video trích xuất camera của công ty đi kèm với hồ sơ. (bút lục số: 72-75).

3. Về kết luận định giá tài sản

Tại bản kết luận định giá tài sản số 243/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: giá trị 12 chiếc quần Jean là 5.637.260 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mười bảy nghìn hai trăm sáu mươi đồng) (bút lục số: 78).

4. Về trách nhiệm dân sự

Ông Dương Thái S - Đại diện cho công ty S2 đã nhận lại 12 cái quần Jean, không yêu cầu bồi thường dân sự. (bút lục số: 83)

2

5. Truy tố

- Bản cáo trạng số: 580/CT-VKSBH-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng 1 Điều 173 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn T mức án từ 06 tháng – 08 tháng tù, xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

6. Ý kiến của bị cáo

- Tại phiên tòa bị cáo trình bày: bị cáo thống nhất với hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì đối với Kết luận định giá tài sản.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc, biên bản xác minh, sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, biên bản kiểm tra dữ liệu camera, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 27/03/2023, tại Công ty TNHH S1, địa chỉ: lô B, khu công nghiệp A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Vũ Văn T có hành vi trộm cắp 08 cái quần Jean mã hàng J324386, 02 cái mã hàng J324379, 02 cái mã hàng J324363 của công ty S2. Theo bản kết luận định giá tài sản số 243/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B tổng tài sản bị chiếm đoạt có trị giá 5.637.260 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mười bảy nghìn hai trăm sáu mươi đồng).

Như vậy, bị cáo Vũ Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản thuộc sở hữu của Công ty S2, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung

3

năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bản thân bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội là thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, tổ chức được Nhà nước bảo vệ, làm mất trật tự xã hội tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, kết hợp với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 60F1-760.60, 01 Giấy đăng ký xe mô tô 60F1-760.60; 01 chìa khoá xe mô tô là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 09 hộp khẩu trang, 03 bọc nilon trong đó 01 màu xanh, 01 màu trắng, 01 màu đen là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

(Vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

4

Xử phạt Vũ Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 60F1-760.60, 01 Giấy đăng ký xe mô tô 60F1-760.60; 01 chìa khoá xe mô tô là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 09 hộp khẩu trang, 03 bọc nilon trong đó 01 màu xanh, 01 màu trắng, 01 màu đen là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

(Vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự xã hội – Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự – Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phú

5

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 656/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 656/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger