Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 656/2025/DS-PT

Ngày: 13 – 6 – 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng

đất và nhà ở.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương;

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ;

Ông Trần Văn Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 540/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và nhà ở”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2023/DS-ST ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo và kháng nghị.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1096/2025/QDXXPT-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Tôn Nữ Thị T, sinh năm 1934 (chết ngày 13/11/2021).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Ông Hồ Nhật T1, sinh năm 1976; thường trú: số A, Đ, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông T1:

- Chị Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (Văn bản ủy quyền ngày 06/5/2022) (có mặt);

- Anh Phùng Minh T2, sinh năm 1986; địa chỉ: số B, A, khu dân cư N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 06/5/2022) (có mặt).

Bị đơn:

  1. Ông Lê Minh H, sinh năm 1969; địa chỉ: số C, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
  2. Bà Lê Thị L, sinh năm 1954; địa chỉ: số I, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  3. Bà Lê Ngọc Đ, sinh năm 1967; địa chỉ: số B, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
  4. Bà Lê Thị Ngọc M, sinh năm 1972; địa chỉ: số I, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Minh H:

Luật sư Mai Tiến L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt)

Luật sư Nguyễn Văn Đ1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)

Luật sư Nguyễn Thị T3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Ngọc T4, sinh năm 1966; địa chỉ: số B, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Mộng N, sinh năm 1972; địa chỉ: số C, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt). Ủy quyền cho: ông Lê Minh H, sinh năm 1969; địa chỉ số C, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
  3. Ông Trần Minh T5, sinh năm 1972; địa chỉ: số I, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  4. Ông Nguyễn Bá H1, sinh năm 1977; địa chỉ: số C, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  5. Ông Văn Thư T6, sinh năm 1970; địa chỉ: số G, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  6. Ông Mai Văn L2, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; tạm trú: Số B, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  7. Ông Hồ Văn N1, sinh năm 1983; địa chỉ: số I, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  8. Ông Mã Ngọc V, sinh năm 1979; địa chỉ: số G, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  9. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1984; địa chỉ: số B, Quốc lộ A, khu phố A, tổ I, phường L, quận (nay là thành phố) T, TP . (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  10. Ông Mai Văn T7, sinh năm 1981; địa chỉ: số I, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  11. Ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1981; địa chỉ: số G, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  12. Ông Hoàng Vũ T8, sinh năm 1965; địa chỉ: số G, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  13. Ông Đặng Thái S, sinh năm 1981; địa chỉ: số A, đường B, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; tạm trú: số G, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  14. Ông Lê Hữu T9, sinh năm 1983; địa chỉ: số G, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  15. Ông Nguyễn Tấn N2, sinh năm 1971; địa chỉ: số G, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  16. Ông Hoàng Khắc H2, sinh năm 1978; địa chỉ: A lô A, cư xá T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: số A, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  17. Ông Nguyễn Viết T10, sinh năm 1984; địa chỉ: số G, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  18. Ông Ngô Thanh N3, sinh năm 1982; địa chỉ: số A, L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: số I, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  19. Bà Trương Thị Hồng S1, sinh năm 1979; địa chỉ: số E, đường số D, khu phố B, phường B, quận (nay là thành phố) T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  20. Bà Đinh Thị N4, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ I, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  21. Ông Chung Văn T11, sinh năm 1977; địa chỉ: đội B, thôn K, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: số A, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  22. Bà Phạm Thị H3, sinh năm 1986; địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; tạm trú: Số C, tổ A, khu phố F, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  23. Ông Võ Văn T12, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Diệu L3, sinh năm 1982; thường trú: tổ B, thôn Q, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tạm trú: số C, đường A, khu dân cư N, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  24. Bà Vũ Thị T13, sinh năm 1981 và bà Vũ Thị T14, sinh năm 1979; địa chỉ: số A, khu A, hẻm D, đường A, khu phố D, phường L, quận (nay là thành phố) T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  25. Ủy ban nhân dân tỉnh B, địa chỉ: tầng A, Tòa nhà T hành chính tỉnh Bình Dương, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  26. Ủy ban nhân dân thành phố D (huyện T cũ), tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Trung tâm hành chính thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  27. Ông Nguyễn Thanh C, chết ngày 22/5/2017.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh C1:

  • Bà Nguyễn Thị Thanh H4, sinh năm 1983; địa chỉ: số I, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  • Bà Nguyễn Thị Thanh H5, sinh năm 1984; địa chỉ: số F, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  • Bà Lê Thị L, sinh năm 1954; địa chỉ: số I, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  1. Bà Trần Thị L4, chết ngày 24/7/2014.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L4:

  • Ông Lê Minh H, sinh năm 1969; địa chỉ: số C, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
  • Bà Lê Thị L, sinh năm 1954; địa chỉ: số I, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  • Bà Lê Ngọc Đ, sinh năm 1967; địa chỉ: số B, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  • Bà Lê Thị Ngọc M, sinh năm 1972; địa chỉ: số I, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  1. Bà Nguyễn Thị Thu T15, sinh năm 1986; địa chỉ: số G, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  2. Ông Ngô Văn P, sinh năm 1957; địa chỉ: số F, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  3. Ông Đào Xuân T16, sinh năm 1955 và ông Nguyễn S2, sinh năm 1982; Địa chỉ: số E, Trường Q1, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  4. Ông Đặng Quang H6, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: số C, đường H, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
  5. Bà Trương Thị H7, sinh năm 1983; địa chỉ: số C, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).

Người có kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Như Ý (là người được ông Hồ Nhật T1 ủy quyền).

Người có kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T trình bày:

Diện tích đất 4.510m² thuộc các thửa: 621, 622, 623, 624, 625 cùng tờ bản đồ số 2 và căn nhà trên đất ông Lê Văn T17 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 945 QSDĐ/CQ.ĐH ngày 21/10/1996 do UBND huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là thành phố D, tỉnh Bình Dương) cấp (hiện nay theo đo đạc hiện trạng thực tế còn lại diện tích 4.048m²) tọa lạc tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có nguồn gốc là của bà Tôn Nữ Thị Tuyết N5 chuyển nhượng năm 1972 của ông Mai Văn G, ông Trần Văn S3 (là người được hưởng thừa kế của ông Võ Văn N6), trên đất có chuồng chăn nuôi heo, Hợp đồng chuyển nhượng có lập thành văn bản có chính quyền chế độ cũ chứng thực. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà T quản lý, sử dụng đến năm 1974, do chồng bà T là ông Hồ Thiên V1 bị bệnh phải nằm điều trị tại Bệnh viện B2 nên bà T phải về S để chăm sóc ông V1, nên gửi nhà, đất lại cho ông Võ Văn Đ2, việc gửi trông coi, không làm giấy tờ. Ông Đ2 đã quản lý giúp bà T đến sau giải phóng năm 1975 ông Đ2 không trông coi nữa. Năm 1976, ông Lê Văn T17 là Chủ tịch UBND xã (nay là phường Đ) lúc bấy giờ mượn nhà và đất để làm trụ sở ấp, bà T đồng ý nhưng không lập giấy tờ. Tháng 8/1975, bà T được thông báo lên kê khai nhà, đất tại UBND xã Đ và được cấp giấy chứng nhận có đăng ký, kê khai nhà và đất. Hai tháng sau, có người báo cho bà T là UBND xã không sử dụng mà gia đình ông T17 sử dụng phần đất bà T cho xã mượn. Gia đình bà T đến gặp gia đình ông T17 và Ủy ban nhân dân xã để đòi lại nhưng gia đình ông T17 tránh mặt, không tiếp đón, còn xã không giải quyết. Bà T có làm đơn khiếu nại nhiều lần nhưng không được trả lời.

Đến năm 1983, mới có đơn trả lời với nội dung mời lên UBND huyện T (nay là thành phố D) để giải quyết nhưng không giải quyết cũng không lập biên bản làm việc. Đến năm 1991, bà T tiếp tục khiếu nại lên UBND tỉnh S thì UBND tỉnh S có giấy thông báo cho UBND Huyện để được giải quyết, bà T đi lại nhiều lần nhưng không dược UBND Huyện giải quyết. Năm 2004, bà T có đơn gửi UBND Xã thì UBND xã thông báo lên giải quyết nhưng không giải quyết mà hướng dẫn nộp đơn đến Tòa án nhân dân để khởi kiện, bà T đi gửi đơn theo đường bưu điện không được trả lời nên có gửi đơn ra Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Cục cảnh sát chống tham nhũng thì được hướng dẫn khởi kiện ra Tòa án. Do đó, năm 2007 bà T nộp đơn khởi kiện và được Tòa án nhân dân thụ lý giải quyết đến nay.

Nay bà T yêu cầu các bị đơn trả lại toàn bộ diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế còn lại là 4.048m².

Đối với diện tích đất bà L, bà M, bà Đ nhận thừa kế của ông T17, bà L4 đã chuyển nhượng lại cho những người khác rồi, bà T yêu cầu các bị đơn phải trả lại bằng giá trị theo Biên bản định giá ngày 03/8/2022. Còn diện tích đất ông H nhận thừa kế của ông T17, bà L4 hiện nay ông H đang quản lý chưa chuyển nhượng cho người khác, bà T đề nghị buộc ông H phải trả lại đất cho bà T. Đối với nhà, hồ nước và chuồng heo hiện không còn thì yêu cầu các bị đơn trả giá trị theo Biên bản định giá vào năm 2008.

- Bị đơn ông Lê Minh H, bà Lê Ngọc Đ, bà Lê Thị L, bà Lê Thị Ngọc Mtrình bày:

Ông Lê Văn T17 (1927–2004) và bà Trần Thị L4 (1930–2014) có 04 người con là bà Lê Thị L, bà Lê Ngọc Đ, bà Lê Thị Ngọc M, ông Lê Minh H.

Năm 1976, UBND xã (nay là phường) Đông Hòa tiếp nhận và quản lý khu đất tại khu I, xã (nay là phường) Đ (bao gồm cả phần đất đang tranh chấp) theo diện vắng chủ để chăn nuôi heo cho X (nay là diện tích đất 4.510m2 thuộc các thửa: 621, 622, 623, 624, 625 cùng tờ bản đồ số 2 Giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ: 945 QSDĐ/CQ.ĐH ngày 21/10/1996 do UBND huyện T cấp ông Lê Văn T17).

Đến cuối năm 1977, do chăn nuôi heo không đạt hiệu quả kinh tế, X đã giao đất và nhà cho gia đình ông Lê Văn T17 (là cha của các bị đơn) làm nhà ở và trồng trọt cho đến nay, nhưng không có văn bản. Sau đó ông T17 có kê khai, đăng ký sử dụng đất vào năm 1982, năm 1994 nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 21/10/1996, UBND huyện (nay là thành phố) Thuận An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 945 QSDĐ/CQ.ĐH cho ông Lê Văn T17 diện tích đất 4.510m2 nêu trên.

Năm 1999, do nhà xuống cấp nghiêm trọng nên ông T17 có làm đơn xin sửa chữa lại nhà và UBND huyện (nay là thành phố) có lập đoàn kiểm tra xác minh hiện trạng và đồng ý cho sửa chữa. Do nhà thuộc sở hữu Nhà nước nên năm 2000, ông T17 có ký hợp đồng thuê nhà. Năm 2004, ông T17 chết, bà L4 (là vợ ông T17) đại diện mua lại nhà thuộc sở hữu Nhà nước.

Năm 2003, ông T17, bà L4 lập di chúc cho các con hưởng thừa kế, trong đó bà Lê Ngọc Đ, bà Lê Thị L, bà Lê Thị Ngọc M, mỗi người 560m² được UBND huyện T (nay là thành phố D) chấp thuận ngày 20/4/2004 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất còn lại 2.830m² cho ông H hưởng thừa kế, ông H đăng ký, biến động sang tên cho ông H, hiện nay ông H đang quản lý, sử dụng, chưa chuyển nhượng cho người khác.

Sau khi Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có hiệu lực thì bà Lê Thị L, bà Lê Thị Ngọc M, bà Lê Ngọc Đ đã chuyển nhượng diện tích đất được phân chia cho ông Nguyễn Bá H1 ngày 31/5/2010. Thủ tục chuyển nhượng đã hoàn tất, ông H1 đã trả đủ tiền chuyển nhượng và nhận đất và sau đó có chuyển nhượng lại cho nhiều người. Nay các bà Lê Thị L, bà Lê Thị Ngọc M, bà Lê Ngọc Đ và ông Lê Minh H không đồng ý trả lại nhà, đất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc T4 (chồng bà Lê Ngọc Đ):

Thống nhất theo ý kiến trình bày của bà Đ. Sau khi có bản án phúc thẩm năm 2009, ngày 31/5/2010, bà Đ đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 560m² mà ông T17 đã phân chia cho ông Nguyễn Bá H1.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Mộng N (vợ ông Lê Minh H):

Thống nhất theo ý kiến trình bày của ông H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh T5 (chồng bà Lê Thị Ngọc M): Thống nhất theo ý kiến trình bày của bà M. Sau khi có bản án phúc thẩm vào năm 2009, ngày 31/5/2010, bà M đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 560m² mà ông T17 đã phân chia cho ông Nguyễn Bá H1.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh C (chồng bà Lê Thị L); những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thanh C gồm bà Lê Thị L (vợ), bà Nguyễn Thị Thanh H4 (con), bà Nguyễn Thị Thanh H5 (con) trình bày: Thống nhất theo ý kiến trình bày của bà L, không trình bày gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L4 (vợ ông Lê Văn T17); những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L4 gồm ông Lê Minh H, bà Lê Thị L, bà Lê Ngọc Đ và bà Lê Thị Ngọc Mtrình bày: Thống nhất theo ý kiến của các bị đơn, không trình bày gì thêm.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá Hà T18:

Ngày 31/5/2010, ông có nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị L diện tích 560m²; bà Lê Ngọc Đ diện tích 560m²; của bà Lê Thị Ngọc M diện tích 560m². Thủ tục chuyển nhượng đã hoàn tất, ngày 30/6/2010, ông Nguyễn Bá H1 được UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 1.680m² thuộc thửa đất số 1989, tờ bản đồ số 2DH tọa lạc tại xã (nay là phường) Đ, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cho. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H1 đã chuyển nhượng cho các ông, bà gồm: Văn Thư T6, Mai Văn L2, Hồ Văn N1, Mã Ngọc V, Nguyễn Văn B, Mai Văn T7, Nguyễn Xuân Q, Hoàng Vũ T8, Đặng Thái S, Lê Hữu T9, Nguyễn Tấn N2, Hoàng Khắc H8, Nguyễn Viết T19, Ngô Thanh N3, Trương Thị Hồng S1, Đinh Thị N7, Chung Văn T11, Phạm Thị H3, Võ Văn T12, Vũ Thị T13 và Vũ Thị Tuyết . Khi ông nhận chuyển nhượng phần đất này thì đất không tranh chấp. Ông Đễ nghị được tiếp tục sử dụng đất.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T13 trình bày:

Vào ngày 03/8/2010, bà T13 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 78m², giá chuyển nhượng là 310.000.000 đồng, bà T13 đã thanh toán tiền chuyển nhượng và đã được UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH03161 ngày 20/11/2011 đối với diện tích 78,3m² thuộc thửa đất số 3149, tờ bản đồ số 2DH tọa lạc tại phường Đ, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Do vậy, bà T13 mong muốn tiếp tục sử dụng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Hồng S1 trình bày:

Ngày 09/10/2010, bà S1 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m², giá chuyển nhượng là 178.000.000 đồng, bà S1 đã thanh toán tiền chuyển nhượng và đã nhận đất cất nhà ở ổn định. Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị N4 trình bày:

Ngày 05/10/2010, bà N7 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m²; giá chuyển nhượng là 180.000.000 đồng, bà N7 đã thanh toán tiền chuyển nhượng và đã nhận đất cất nhà ở ổn định. Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn Thư T6 trình bày:

Ngày 05/8/2010, ông T6 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m²; giá chuyển nhượng là 195.000.000 đồng, ông T6 đã thanh toán số tiền chuyển nhượng là 180.000.000 đồng, số tiền 15.000.000 đồng còn lại sẽ thanh toán sau khi ông T6 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T6 đã nhận đất cất nhà ở ổn định. Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn L2 trình bày:

Ông L2 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m²; giá chuyển nhượng là 185.000.000 đồng, ông L2 đã thanh toán số tiền chuyển nhượng là 170.000.000 đồng, số tiền 15.000.000 đồng còn lại sẽ thanh toán sau khi ông L2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông L2 đã nhận đất và cất nhà ở ổn định. Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn N1 trình bày:

Ông N1 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m²; giá chuyển nhượng là 185.000.000 đồng, ông N1 đã thanh toán số tiền chuyển nhượng là 170.000.000 đồng, số tiền 15.000.000 đồng còn lại sẽ thanh toán sau khi ông N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N1 đã nhận đất, cất nhà ở ổn định. Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mã Ngọc V trình bày: Ngày 03/10/2010, ông V có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 54m² và căn nhà 01 trệt, 01 gác lửng; giá chuyển nhượng là 380.000.000 đồng. Sau khi mua nhà, đất thì ông V đã sửa chữa lại ngôi nhà, xây dựng tường rào, nâng cấp trang thiết bị. Khi ông V nhận chuyển nhượng, có hợp đồng mua bán được xác nhận hợp pháp, không có tranh chấp. Ông V đã sử dụng ổn định phần đất từ khi mua đến nay. Do vậy, ông V đề nghị tiếp tục sử dụng nhà, đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B trình bày:

Ngày 29/6/2011, ông B có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m²; giá chuyển nhượng là 225.000.000 đồng. Việc mua bán có hợp đồng và xác nhận của UBND xã (nay là phường) Đông Hòa. Ông B đã thanh toán toàn bộ số tiền chuyển nhượng cho ông H1. Do vậy, ông B có nguyện vọng tiếp tục sử dụng đất.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn T7 trình bày:

Ngày 23/6/2010, ông T7 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m²; giá chuyển nhượng là 185.000.000 đồng, ông T7 đã thanh toán số tiền chuyển nhượng là 170.000.000 đồng, số tiền 15.000.000 đồng còn lại sẽ thanh toán sau khi ông T7 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc mua bán có giấy tờ và xác nhận của UBND xã (nay là phường) Đông Hòa. Ông T7 đã nhận đất, xây cất nhà ở ổn định. Do vậy, ông T7 đề nghị được sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân Q trình bày:

Ngày 23/6/2010, ông Q có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m², giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng, ông Q đã thanh toán số tiền chuyển nhượng là 185.000.000 đồng, số tiền 15.000.000 đồng còn lại sẽ thanh toán sau khi ông T7 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc mua bán có giấy tờ và xác nhận của UBND xã (nay là phường) Đông Hòa. Ông Q đã nhận đất, xây cất nhà ở ổn định. Do vậy, ông Q đề nghị được sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn thì giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu T9 trình bày:

Ông T9 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 73,35m², giá chuyển nhượng là 550.000.000 đồng, ông T9 đã thanh toán số tiền chuyển nhượng và đã được UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01597 ngày 20/11/2010. Ông T9 đã xây dựng nhà ở ổn định. Do vậy, ông T9 có nguyện vọng tiếp tục sử dụng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn thì giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn N2 trình bày:

Ngày 07/8/2010, ông N2 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 80m², giá chuyển nhượng là 336.000.000 đồng, ông Q đã thanh toán số tiền chuyển nhượng là 306.000.000 đồng, số tiền 30.000.000 đồng còn lại sẽ thanh toán sau khi ông N2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc mua bán có lập giấy tờ và xác nhận của UBND xã (nay là phường) Đông Hòa. Ông N2 đã nhận đất, xây cất nhà ở ổn định. Do vậy, ông N2 mong muốn tiếp tục được sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Viết T10 trình bày:

Ngày 10/01/2011, ông T10 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 96m², trên đất có nhà 01 trệt, 01 gác lửng; giá chuyển nhượng là 440.000.000 đồng. Ông T10 đã sử dụng ổn định phần nhà, đất từ khi mua đến nay. Do vậy, ông T10 đề nghị tiếp tục được sử dụng nhà, đất đã nhận chuyển nhượng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chung Văn T11 trình bày:

Ngày 12/10/2010, ông T11 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m², giá chuyển nhượng là 190.000.000 đồng, việc mua bán có lập giấy cam kết và được UBND xã (nay là phường) Đông Hòa xác nhận. Ông T11 đã nhận đất, chưa sử dụng, mục đích ông T11 mua là để cất nhà ở. Do vậy, ông T11 đề nghị tiếp tục được sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn thì ông T11 không có ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H3 trình bày:

Ngày 01/8/2010, bà H3 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m², giá chuyển nhượng là 193.000.000 đồng, việc mua bán có lập giấy cam kết và được UBND xã (nay là phường) Đông Hòa xác nhận. Bà H3 đã nhận đất nhưng chưa đủ điều kiện cất nhà. Do vậy, bà H3 đề nghị tiếp tục được sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn thì bà H3 không có ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T14 trình bày:

Ngày 03/8/2010, bà T14 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 78m², giá chuyển nhượng là 310.000.000 đồng, bà T14 đã thanh toán cho ông H1 số tiền 255.000.000 đồng, số tiền còn lại 55.000.000 đồng sẽ thanh toán sau khi bà T14 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc mua bán có lập giấy cam kết và được UBND xã (nay là phường) Đông Hòa xác nhận. Bà T14 đã nhận đất, chưa sử dụng, mục đích bà T14 mua là để cất nhà ở. Do vậy, bà T14 đề nghị tiếp tục được sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn thì bà T14 đề nghị xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Vũ T8 trình bày:

Ông T8 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 các diện tích đất cụ thể như sau: ngày 08/7/2010, ông T8 nhận chuyển nhượng với diện tích 54m², giá chuyển nhượng là 228.000.000 đồng; ngày 09/12/2010, nhận chuyển nhượng với diện tích 50m²; giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng; ngày 23/4/2011, ông T8 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 49,2m²; giá chuyển nhượng là 196.000.000 đồng. Ông T8 đã thanh toán toàn bộ tiền chuyển nhượng cho ông H1. Việc mua bán có lập giấy cam kết và được UBND xã (nay là phường) Đông Hòa xác nhận. Ông T8 đã nhận đất, cất nhà ở. Do vậy, ông T8 đề nghị tiếp tục được sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn thì ông T8 không có ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Khắc H2 trình bày:

Khoảng tháng 6/2010, ông H2 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 71,2m² thuộc thửa đất số 3039, tờ bản đồ số 2DH; giá chuyển nhượng là 304.000.000 đồng, ông H2 đã thanh toán tiền chuyển nhượng và đã được UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01258 ngày 23/11/2010. Ông H2 đã xây dựng nhà ở ổn định. Do vậy, ông H2 nguyện vọng tiếp tục sử dụng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Thanh N8 trình bày:

Ngày 06/2/2011, ông N8 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m², đất thuộc thửa đất số 2980, tờ bản đồ số 2DH tọa lạc tại phường Đ, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Do vậy, ông N8 nguyện vọng tiếp tục sử dụng diện tích nhà, đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T14 thì ông N8 không liên quan.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Thái S trình bày:

Ngày 14 và 16 tháng 8 năm 2010, ông S có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 161,7m² tọa lạc tại phường Đ, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ông N8 đã được UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01248 ngày 23/11/2010. Sau đó, ông S đã cất nhà ở ổn định cho đến nay. Do vậy, ông S có nguyện vọng tiếp tục sử dụng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T14 thì ông N8 không liên quan.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn T12 và bà Nguyễn Thị Diệu L3 trình bày:

Năm 2010, ông T12 và bà L3 có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Bá H1 với diện tích 48m²; giá chuyển nhượng là 170.000.000 đồng. Vợ chồng ông T12 đã thanh toán toàn bộ tiền chuyển nhượng cho ông H1 và đã nhận đất. Do vậy, vợ chồng ông T12 đề nghị tiếp tục được sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Ngô Văn P, ông Đào Xuân T16, ông Nguyễn S2, ông Đặng Quang H6, bà Nguyễn Thị B1, bà Trương Thị H7:

Bà Nguyễn Thị Thu T15, ông Ngô Văn P, ông Đào Xuân T16, ông Nguyễn S2, ông Đặng Quang H6, bà Nguyễn Thị B1, bà Trương Thị H7 đã được Tòa án tống thông báo tham gia tố tụng; thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng các ông, bà không có văn bản trình bày ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố D trình bày:

Theo Hợp đồng thuê tài sản số 04/2000/HĐ-TC ngày 29/11/2000 thì Phòng T24 cho ông Lê Văn T17 thuê căn nhà cấp 4 có diện tích 123,8m² tọa lạc tại số A ấp (nay là khu phố) Đông, xã (nay là phường) Đ, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương nằm trong diện tích đất 4.519m² với thời hạn 01 năm. Nhà này thuộc sở hữu Nhà nước bàn giao theo Quyết định số 7576/QĐ-CT ngày 06/12/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc chuyển giao quỹ nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An quản lý (có danh sách kèm theo).

Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ về giải quyết khiếu nại, tranh chấp do UBND huyện (nay là thành phố) T chuyển về thời điểm tách huyện vào năm 1999, không có hồ sơ xin lại đất của bà Tôn Nữ Thị Tuyết .1 Do đó, không có cơ sở để UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An trả lời cho Tòa án nội dung: “UBND xã Đ cho ông T17 kê khai, đăng ký trong khi đất đang tranh chấp việc kê khai đăng ký có đúng quy định không?”.

Việc UBND huyện T (nay là thành phố D) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 945 (QSDĐ/CQ.ĐH) ngày 21/10/1996 cho ông Lê Văn T17 với diện tích 4.510m² là đúng quy định, căn cứ vào khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Người sử dụng đất ổn định, được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND tỉnh B trình bày:

Trong năm 2008, Sở Xây dựng đã cung cấp hồ sơ bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho hộ ông Lê Văn T17 – bà Trần Thị L4. Hồ sơ gồm: đơn xin mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước của hộ ông Lê Văn T17 – bà Trần Thị L4; giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước; bảng điều tra xác minh nhà ở, đất ở; biên bản kiểm kê tình hình quản lý, sử dụng nhà cửa.

Ngày 29/12/2004, UBND tỉnh B có Quyết định số 1489/QĐ-CT về việc bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất ở, giảm tiền mua nhà theo Quyết định số 64/1998/QĐ-TTg cho hộ bà Trần Thị L4 với diện tích đất ở là 300m² và diện tích xây dựng là 123,84m².

Căn nhà có diện tích 123,84m² nằm trên khu đất có diện tích 4.950m² tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương nay là khu A, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Công văn số 85/TA-DS ngày 01/7/2011 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An nêu trên. Qua biên bản kiểm kê tình hình quản lý, sử dụng nhà cửa ngày 01/12/1995 của Phòng Công nghiệp huyện T thì căn nhà này là nhà thuộc diện vắng chủ. Huyện T lúc bấy giờ đã bố trí cho hộ ông Lê Văn T17 – bà Trần Thị L4 để ở.

Căn cứ Điều 1 của Nghị Quyết 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội nước C2 khóa XI, kỳ họp thứ 04 về nhà, đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà, đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 trong đó có nội dung như sau:

“Nhà nước không xem xét lại chủ trương, chính sách và việc thực hiện các chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà, đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 1991.

Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà, đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách về quản lý nhà, đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà, đất.”

Qua biên bản kiểm kê tình hình quản lý, sử dụng nhà cửa ngày 01/12/1995 của Phòng Công nghiệp huyện T thì căn nhà này là nhà thuộc diện vắng chủ. Huyện T lúc bấy giờ đã bố trí cho hộ ông Lê Văn T17 – bà Trần Thị L4 để ở, đồng thời trong quá trình sử dụng hộ ông T17 – bà L4 có xin phép sửa chữa nhà và được UBND huyện T cấp Giấy phép sửa chữa số 121 GP.XD ngày 12/6/1999. Trên cơ sở, căn nhà nêu trên là nhà ở do Nhà nước đã đưa vào quản lý, bố trí cho ông T17 – bà L4 thuê, nhà không có tranh chấp, khiếu kiện và có hồ sơ mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước của ông Lê Văn T17 và bà Trần Thị L4, Hội đồng bán nhà huyện D xem xét, kiểm tra lập các thủ tục trình Sở Xây dựng tham mưu trình UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1489/QĐ-CT ngày 29/12/2004 về việc bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất ở, giảm tiền mua nhà theo Quyết định số 64/1998/QĐ-TTg cho hộ bà Trần Thị L4 với diện tích ở 300m² và diện tích đất xây dựng là 123,84m².

Đối với khiếu nại của bà T14 thì căn cứ Điều 1 Nghị quyết số 23/2003/NQ-UBTVQH 11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 04 về nhà, đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà, đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991 trong đó có nội dung sau:

“Nhà nước không xem xét lại chủ trương, chính sách và thực hiện các chính sách cải tạo Xã hội chủ nghĩa liên quan đến đất đai đã ban hành trước ngày 01/7/1991.”

Kết quả giải quyết lần thứ nhất:

- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2008/DSST ngày 29/9/2008 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An đã quyết định: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T14 đối với các bị đơn. Ngày 07/10/2008, bà Tôn Nữ Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.

- Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 63/2009/DSPT ngày 17/3/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngày 18/4/2009, bà T có đơn khiếu nại theo trình tự giám đốc thẩm đối với hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên đến Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao.

- Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 25/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 10/3/2011 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: đề nghị hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên.

- Tại Quyết định giám đốc thẩm số 331/2011/DS-GĐT ngày 29/4/2011 của Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên, với các căn cứ: cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và nhà ở; cần làm rõ nhà, đất trên có thuộc diện vắng chủ hay không? Cần làm rõ năm 1983, ông T17 có đăng ký diện tích đất trên không? Nếu ông T17 đăng ký trong khi bà T tranh chấp thì tại sao UBND xã (nay là phường) Đông Hòa lại cho ông T17 đăng ký? Tại Biên bản kiểm kê tình hình quản lý, sử dụng nhà cửa (thuộc sở hữu Nhà nước) đối với nhà trên có ghi: “Nhà này chủ cũ xin lại, huyện đã xem xét đề nghịi trả lại, chờ quyết định của tỉnh.” Như vậy, cần làm rõ Ủy ban nhân dân tỉnh C3 trả lại nhà cho bà T hay không? Nếu không trả thì có văn bản trả lời cho bà T không? Việc UBND huyện T cấp quyền sử dụng đất cho ông T17 vào năm 1996 dựa trên cơ sở nào? Tại sao năm 2000 gia đình ông T17 mới ký hợp đồng thuê nhà với Nhà nước? Cần xác minh hồ sơ quản lý nhà, đất đang tranh chấp.

Kết quả giải quyết lần thứ hai:

Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương đã thụ lý vụ án lại ngày 10/6/2011, đưa những người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Ngọc Đ, bà Lê Thị L, bà Lê Thị Ngọc M là ông Nguyễn Bá H1; những người mua đất của ông H1 là các ông, bà Đặng Thái S, Vũ Công T20, Lê Hữu T9, Mai Văn T7, Mã Ngọc V, Hồ Văn N1, Hoàng Khắc H8, Trương Thị Hồng S1, Chung Văn T11, Phạm Thị H3, Nguyễn Viết T10, Nguyễn Tấn N2, Nguyễn Xuân Qtham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Theo văn bản trả lời của U (nay là thành phố) D và UBND tỉnh B xác định: việc ông Lê Văn T17 thuê tài sản theo Hợp đồng số 04/2000/HD-TC ngày 29/11/2000 và diện tích đất gắn liền là thuộc trường hợp nhà thuộc sở hữu Nhà nước bàn giao theo Quyết định số 7576/QĐ-CT ngày 06/12/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh B; hồ sơ lưu trữ giải quyết khiếu nại tranh chấp do UBND huyện T chuyển về thời điểm tách huyện vào năm 1999 không có hồ sơ xin lại đất của bà Tôn Nữ Thị T nên không có cơ sở để UBND huyện (nay là thành phố) D trả lời việc ông T17 đăng ký có đúng quy định hay không; việc UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T17 với diện tích 4.510m² là đúng quy định theo quy định tại Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 “người sử dụng đất ổn định, được UBND xã phường, thị trấn xác nhận”.

- Tại Bản án dân sự sơ thẩm (lần hai) số 02/2012/DSST ngày 08/02/2012 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An đã quyết định: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị Tuyết .1 Ngày 14/02/2012, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà T là bà Phạm Thị H3 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

- Tại Bản án dân sự phúc thẩm (lần hai) số 192/2012/DSPT ngày 09/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định: không chấp nhận kháng cáo của bà H3, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bà Tôn Nữ Thị T có đơn khiếu nại theo trình tự giám đốc thẩm.

- Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 66/2017/KNGĐT-VC3 ngày 26/5/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao 3 đề nghị hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm (lần hai) nêu trên.

- Tại Quyết định giám đốc thẩm số 59/2017/DS-GĐT ngày 19/12/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và bản án phúc thẩm (lần hai) nêu trên với lý do: sau năm 1975 đến nay, bà T có đăng ký, kê khai nhà, đất; có khiếu nại liên tục xin lại nhà, đất cho thấy bà T chưa từ bỏ quyền sở hữu, quyền sử dụng và không có căn cứ xác định nhà, đất của bà T là nhà, đất vắng chủ. Căn cứ theo Thông tư 201/BXD-NĐ ngày 23/6/1978 của Bộ X1 hướng dẫn việc quản lý nhà, đất vắng chủ ở phía Nam quy định: nhà, đất vắng chủ ở miền N là nhà, đất từ khi giải phóng miền N, người đứng tên sở hữu không có mặt ở địa phương, không có lý do chính đáng và cũng không đăng ký cư trú tại một nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó, nhà, đất của bà T không phải là nhà, đất vắng chủ. Công văn trả lời số 2377/SXD-QLN.TTĐBDS ngày 29/12/2011 của Sở Xây dựng tỉnh B. Vào năm 1983, ông Lê Văn T17 đã kê khai nhà, đất. Đến năm 1996, Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1999, ông T17 có đơn xin Nhà nước sửa lại nhà ở cho ông T17. Năm 2000, ông Lê Văn T17 ký hợp đồng thuê nhà của Nhà nước để ở. Năm 2004, ông T17 chết, bà Trần Thị L4 (vợ ông T17) làm đại diện mua lại nhà thuộc sở hữu Nhà nước. Như vậy, có cơ sở xác định việc các cơ quan quản lý của tỉnh Sông Bé trước đây và tỉnh Bình Dương hiện nay đã cho ông T17 thuê nhà, thanh lý nhà, đất và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cho ông T17 là không có căn cứ và ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T. Tòa án các cấp giải quyết không đưa cơ quan này tham gia tố tụng để làm rõ các vấn đề nêu trên nhằm giải quyết vụ án triệt để.

Sau khi thụ lý lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm (lần ba), Tòa án đã đưa UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An và UBND tỉnh B vào tham gia tố tụng.

Tại Công văn số 71/SXD - QLN ngày 07/01/2019 của Sở Xây dựng (được Ủy ban nhân dân tỉnh B ủy quyền) trả lời như sau:

“Qua biên bản kiểm kê tình hình quản lý, sử dụng nhà cửa ngày 01/12/1995 của Phòng Công nghiệp huyện T thì căn nhà này là nhà thuộc diện vắng chủ. Huyện T lúc bấy giờ đã bố trí cho hộ ông Lê Văn T17 - bà Trần Thị L4 để ở, đồng thời trong quá trình sử dụng hộ ông T17 - bà L4 có xin phép sửa chữa nhà và được UBND huyện T cấp giấy phép sửa chữa số 121 GP.XD ngày 12/6/1999. Ngày 12/7/2011, Sở Xây dựng nhận được Công văn số 1977/UBND-KTN ngày 07/7/2011 của UBND tỉnh B về việc cung cấp thông tin về trường hợp bà Tôn Nữ Thị T cho Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An. Qua nghiên cứu hồ sơ lưu trữ tại Sở Xây dựng và Công văn số 85/TA-DS ngày 01/7/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An về việc giải quyết khiếu nại của bà Tôn Nữ Thị Tuyết .1 Sở Xây dựng đã trả lời tại Văn bản số 2377/SXD-QLN.TTBĐS ngày 29/12/2011 về việc trả lời Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

Trên cơ sở, căn nhà nêu trên là nhà ở do Nhà nước đã đưa vào quản lý, bố trí cho ông T17 - bà L4 thuê, nhà không có tranh chấp, khiếu kiện và có hồ sơ mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước của ông Lê Văn T17 và bà Trần Thị L4 được Hội đồng bán nhà huyện D xem xét, kiểm tra lập các thủ tục trình Sở Xây dựng tham mưu trình UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1489/QĐ-CT ngày 29/12/2004 về việc bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất ở, giảm tiền mua nhà theo Quyết định số 64/1998/QĐ-TTg cho hộ bà Trần Thị L4 với diện tích ở 300m² và diện tích đất xây dựng là 123,84m².

Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà, đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà, đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà, đất.

Kết quả giải quyết lần thứ ba:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2023/DS-ST ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, đã tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Tôn Nữ Thị T là ông Hồ Nhật T1) đối với các bị đơn gồm ông Lê Minh H, bà Lê Thị L, bà Lê Ngọc Đ, bà Lê Thị Ngọc M về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và nhà ở”.

Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Ngày 10/7/2023, chị Nguyễn Thị Như Ý là người được anh Hồ Nhật T1 ủy quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 17/7/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 22/2023/QĐ-VKS-DS kháng nghị bản án sơ thẩm đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa Nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả đo đạc ngày 21/01/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D và Biên bản định giá tài sản ngày 03/8/2022 để giải quyết vụ án (không yêu cầu đo vẽ, định giá lại).

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: Ông Lê Văn T17 là người đã đăng ký kê khai nhà đất vắng chủ từ năm 1983, năm 1994. Năm 1996 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, hiện nay được UBND tỉnh B và UBND thành phố D thừa nhận, quá trình sử dụng nhà đất của gia đình bị đơn là ngay tình, liên tục. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử:

Xét nguồn gốc diện tích đất và tài sản tranh chấp là do bà T nhận quyền nhượng của những người hưởng thừa kế của ông Nguyễn Văn N9 theo tờ “Bán đứt trọn sở đất” được Ủy ban hành chính xã Đ, tỉnh Biên Hòa chứng thực ngày 30/8/1972 (bút lục 1282, 1283). Bà T được cấp trích lục địa bộ ngày 09/10/1972 (bút lục 47). Quá trình sử dụng, bà T kê khai đất và được UBND-xã (nay là phường) Đông Hòa cấp Giấy chứng nhận đăng ký, kê khai đất số 08/BNN/ĐH ngày 01/8/1975 (bút lục 48). Sau khi mua đất, bà T có xây nhà và làm chuồng heo để chăn nuôi. Năm 1974, bà T về Thành phố Hồ Chí Minh chăm chồng bị bệnh có gửi nhà, đất lại cho ông Võ Văn Đ2 trông coi nhưng không làm giấy tờ. Năm 1975, bà T cho UBND xã (nay là phường) Đông Hòa mượn đất để làm Văn phòng ấp và chăn nuôi heo. Sau giải phóng bà T đã được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt Nam cấp Giấy đăng ký ruộng đất. Năm 1983, ông T17 cũng kê khai đăng ký ruộng đất, cùng 1983 bà T đã gửi đơn khiếu nại đến Ban quản lý ruộng đất tỉnh S theo Giấy báo số 183 ngày 13/5/1983 nhưng không được giải quyết. Đến năm 1991, bà T tiếp tục khiếu nại đến bộ phận quản lý nhà, đất huyện T (bút lục 06). Năm 1996, ông T17 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái quy định của pháp luật. Như vậy, có cơ sở xác định bà T không từ bỏ quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp. Nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bên nguyên đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng: Đối với diện tích 300m² đất ở và nhà ở trên đất gia đình bị đơn được Nhà nước bán hóa giá, là ngay tình nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Đối với diện tích đất còn lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn trả lại giá trị bằng tiền cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là trong hạn luật định, hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả đo đạc ngày 21/01/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D và Biên bản định giá tài sản ngày 03/8/2022 để giải quyết vụ án, không yêu cầu đo đạc và định giá lại.

* Về nội dung:

[3]. Xét diện tích đất 4.510m² thuộc các thửa: 621, 622, 623, 624, 625 cùng tờ bản đồ số 2 và căn nhà trên đất ông Lê Văn T17 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 945 QSDĐ/CQ.ĐH ngày 21/10/1996 do UBND huyện T, tỉnh Sông Bé cấp (nay là thành phố D, tỉnh Bình Dương). Hiện nay theo đo đạc hiện trạng thực tế còn lại diện tích 4.048m² tọa lạc tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương đang tranh chấp (sau đây viết tắt: nhà, đất đang tranh chấp):

- Nguyên đơn cho rằng nhà, đất đang tranh chấp là do bà Tôn Nữ Thị T mua ngày 30/8/1972 của ông Mai Văn G và ông Trần Văn S3 là những người được hưởng thừa kế của ông Nguyễn Văn N9 theo tờ “Bán đứt trọn sở đất” được Ủy ban hành chính xã Đ, tỉnh Biên Hòa của chế độ cũ - Việt Nam cộng hòa chứng thực. Ngày 09/10/1972, bà T được chính quyền chế độ cũ - Việt Nam cộng hòa cấp trích lục địa bộ. Sau khi mua đất, bà T đã xây nhà ở và làm chuồng heo để chăn nuôi. Năm 1974, bà T về thành phố S (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) để chăm sóc chồng bị bệnh nên có gửi nhà, đất lại cho ông Võ Văn Đ2 trông coi. Sau ngày miền nam được giải phóng, ngày 01/8/1975 bà T kê khai và đã được UBND xã Đ cấp Giấy chứng nhận số 08/BNN/ĐH. Năm 1976, thời điểm này ông Lê Văn T17 đang làm chủ tịch UBND xã Đ mượn nhà, đất của bà để làm Văn phòng ấp. Năm 1977, UBND xã Đ chỉ tạm giao cho gia đình ông T17 ở và sử dụng nhà, đất của bà T mà không có ý kiến của bà. Sau khi biết được bà T đã khiếu kiện liên tục đến nay nhưng gia đình ông T17 không chịu trả lại. Nguyên đơn cho rằng nhà, đất của nguyên đơn không phải nhà, đất vắng chủ nên việc ông T17 kê khai nhà đất thuộc diện vắng chủ được Nhà nước giao cho ông T17 sử dụng để được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với nhà, đất của bà T là không đúng, nên gia đình ông T17 phải trả lại cho bà T.

- Bị đơn cho rằng nhà, đất đang tranh chấp là do sau giải phóng UBND xã Đ tiếp quản nhà vắng chủ, rồi sử dụng nuôi heo và trồng trọt làm kinh tế cho X. Năm 1977, UBND xã Đ giao cho ông Lê Văn T17 quản lý, sử dụng. Năm 1983, ông T17 đăng ký diện tích 1.900m² nhưng giấy tờ bị thất lạc (ông T17 đã được UBND xã Đ xác nhận có đăng ký, kê khai vào năm 1983) và năm 1994 ông T17 tiếp tục đăng ký kê khai. Đến 1996, ông T17 đăng ký lại với diện tích 4.510m² và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 21/10/1996. Ngày 29/11/2000, ông T17 ký hợp đồng thuê nhà với UBND huyện D với diện tích 123,84m². Năm 2003, ông T17, bà L4 lập di chúc cho con: ông Lê Minh H diện tích 2.830m², bà Lê Thị Ngọc M 560m²; bà Lê Thị Lang K 560m²; bà Lê Ngọc Đ 560m². Năm 2004, bà L, bà Đ và bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã chuyển nhượng cho người khác. Ngày 29/12/2004, UBND tỉnh B có Quyết định số 1489/QĐ-CT bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước và quyền sử dụng đất ở cho bà Trần Thị L4 (vợ ông T17). Ngày 28/02/2005, bà L4 ký hợp đồng mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước với Hội đồng mua bán nhà huyện D, cùng năm 2005, ông H đã được chỉnh lý biến động sang tên trên Giấy chứng nhận QSDĐ. Bị đơn cho rằng quyền sử dụng, sở hữu nhà, đất trên của các bị đơn là hợp pháp nên không đồng ý trả lại cho nguyên đơn.

[4]. Xét quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của bà Tôn Nữ Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Nguồn gốc các thửa: 621, 622, 623, 624, 625 cùng tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương đang tranh chấp, có nguồn gốc là diện tích đất: 0M.475.90 (4.790m2) thuộc thửa địa bộ cũ 418, 420, địa bộ mới 164, họa đồ 164, tờ thứ nhứt xã Đ là của ông Nguyễn Văn N9 đã được Xã trưởng Ủy ban hành chánh xã Đ, quận D, tỉnh Biên Hòa (chế độ cũ - Việt Nam cộng hòa) cấp “Giấy chứng nhận trực canh” ngày 30/8/1972 (BL 2688). Cùng ngày 30/8/1072, bà T nhận chuyển nhượng của ông Mai Văn G và ông Trần Văn S3 là con trai được hưởng thừa kế của ông Nguyễn Văn N9, hai bên lập “Tờ bán đứt trọn sở đất” chuyển nhượng diện tích đất: 0M.47$.90 (4.790m2) thuộc thửa địa bộ cũ 418, 420, địa bộ mới 164, họa đồ 164 cho bà T, được Xã trưởng Ủy ban hành chánh xã Đ, quận D, tỉnh Biên Hòa (chế độ cũ - Việt Nam cộng hòa) chứng thực (BL 1282, 1283, 2687). Cùng ngày 30/8/1972, bà T gửi “Đơn trưng cầu sang bộ” cho T21 ty điền địa Biên Hòa (chế độ cũ- Việt Nam cộng hòa) xin được sang tên cho bà T, được Xã trưởng Ủy ban hành chánh xã Đ, quận D, tỉnh Biên Hòa chứng thực (BL 2685). Ngày 09/10/1972, bà T được Tổng nha điền địa (chế độ cũ - Việt Nam cộng hòa) cấp “Trích lục địa bộ” đối với diện tích đất: 0M.475.90 (4.790m2) thuộc thửa địa bộ cũ 418, 420, địa bộ mới 164, họa đồ 164, tờ thứ nhứt xã Đ (BL 47, 2683). Sau khi nhận chuyển nhượng bà T đã xây nhà ở và làm chuồng heo để chăn nuôi. Năm 1974, bà T về thành phố S (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) để chăm sóc chồng là ông Hồ Thiên V1 bị bệnh, được Bệnh viện B2 cấp “Giấy chứng nhận nằm viện” ngày 21/12/1974 (BL 2682) nên có gửi nhà, đất lại cho ông Võ Văn Đ2 trông coi (BL 05). Sau ngày miền nam được giải phóng (30/4/1975), bà T đã kê khai đăng ký diện tích đất nêu trên với chính quyền cách mạng, được Ủy ban nhân dân cách mạng xã Đ, huyện D, tỉnh Thủ Dầu Một, C4 (Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền C4) cấp giấy “Chứng nhận” đăng ký ruộng đất số: 08/BNN/ĐN ngày 01/8/1975 (BL 48, 2680) đối với 02 diện tích đất, gồm: Diện tích đất 0M.615.50 (6.150m2) số địa bộ A, Tờ thứ nhứt, số bản đồ 167; Và diện tích đất 0M.475.90 (4.790m2) số địa bộ mới 164, số bản đồ 164. Diện tích đất 0M.475.90 (4.790m2) số địa bộ mới 164, số bản đồ 164 nên trên chính là diện tích đất đang có tranh chấp trong vụ án này.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nêu trên có cơ sở xác định diện tích đất thửa: 621, 622, 623, 624, 625 cùng tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương đang tranh chấp, trước giải phóng bà Tôn Nữ Thị T đã được Tổng nha điền địa (chế độ cũ - Việt Nam cộng hòa) cấp “Trích lục địa bộ” và sau ngày M1 nam được giải phóng được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền C4 cấp giấy “Chứng nhận” đăng ký ruộng đất. Như vậy, diện tích đang có tranh chấp nêu trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Tôn Nữ Thị Tuyết .1

Như trên đã nêu, ngày 01/8/1975 bà T đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền C4 cấp “Chứng nhận” đăng ký ruộng đất nhưng sau đó là năm 1983, UBND xã Đ vẫn cho ông Lê Văn T17 đăng ký kê khai ruộng đất diện tích đất 1,9 ha (BL 56) trong đó có diện tích đất đang tranh chấp của bà T. Như vậy, việc kê khai đăng ký sau của ông T17 là trái quy định của pháp luật. Do đó, năm 1983 bà T đã có khiếu nại gửi đến UBND tỉnh S (nay là tỉnh Bình Dương), U1 Bé chuyển đơn của bà T đến Ban quản lý ruộng đất tỉnh S (BL 2679). Năm 1991, bà T tiếp tục khiếu nại, Bộ phận quản lý nhà, đất huyện T đã có Giấy mời ngày 13/9/1991 có nội dung mời bà T đến “Bổ túc hồ sơ xin lại nhà” (BL 06, 2678) nhưng sau đó không được giải quyết. Năm 1994, ông T17 tiếp tục đăng ký kê khai diện tích đất của bà T (BL 151, 243).

Ngày 01/12/1995, Phòng Công nghiệp huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là thành phố D, tỉnh Bình Dương) lập “Biên bản kiểm kê tình hình quản lý sử dụng nhà cửa” nhà và diện tích đất 4.510m² đất của ông V1 là chồng của bà T (sau đây viết tắt: Biên bản kiểm kê), có ghi nhận nội dung: “Nhà đất này của ông Lê Văn V2 (vợ là N10) chủ trại heo Tám Hòa cũ, sau g/f (giải phóng) vắng chủ, nhà nước quản lý.”; “Nhà thuộc diện vắng chủ (Bộ đội tiếp quản giao lại cho Xã 1976), (tạm giao CB (cán bộ) sử dụng)”; “Đề xuất của tổ kiểm kê: Nhà này Chủ cũ xin lại, H9 đã xem xét đề nghị trả lại chờ quyết định của T22” (BL 112) đưa diện tích đất nêu trên của bà Tôn Nữ Thị T vào diện vắng chủ là không phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Bởi lẽ, sau ngày giải phóng T đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền C4 cấp giấy “Chứng nhận” đăng ký ruộng đất. Việc bà T không có mặt ở địa phương để trực tiếp quản lý nhưng đã gửi lại nhờ ông Đ2 trông coi để đi chăm sóc chồng bị bệnh, là vì lý do khách quan, bà T chưa từ bỏ quyền quản lý, sử dụng đất đã được Nhà nước công nhận.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số: 59/2017/DS-GĐT ngày 19/12/2017 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định: sau năm 1975 đến nay, bà T có đăng ký, kê khai nhà, đất; có khiếu nại liên tục xin lại nhà, đất cho thấy bà T chưa từ bỏ quyền sở hữu, quyền sử dụng và không có căn cứ xác định nhà, đất của bà T là nhà, đất vắng chủ. Căn cứ theo Thông tư 201/BXD-NĐ ngày 23/6/1978 của Bộ X1 hướng dẫn việc quản lý nhà, đất vắng chủ ở phía Nam quy định: nhà, đất vắng chủ ở miền N là nhà, đất từ khi giải phóng miền N, người đứng tên sở hữu không có mặt ở địa phương, không có lý do chính đáng và cũng không đăng ký cư trú tại một nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó, nhà, đất của bà T không phải là nhà, đất vắng chủ. Công văn trả lời số 2377/SXD-QLN.TTĐBDS ngày 29/12/2011 của Sở Xây dựng tỉnh B. Vào năm 1983, ông Lê Văn T17 đã kê khai nhà, đất. Đến năm 1996, Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1999, ông T17 có đơn xin Nhà nước sửa lại nhà ở cho ông T17. Năm 2000, ông Lê Văn T17 ký hợp đồng thuê nhà của Nhà nước để ở. Năm 2004, ông T17 chết, bà Trần Thị L4 (vợ ông T17) làm đại diện mua lại nhà thuộc sở hữu Nhà nước. Như vậy, có cơ sở xác định việc các cơ quan quản lý của tỉnh Sông Bé trước đây và tỉnh Bình Dương hiện nay đã cho ông T17 thuê nhà, thanh lý nhà, đất và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cho ông T17 là không có căn cứ và ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T. Tòa án các cấp giải quyết không đưa cơ quan này tham gia tố tụng để làm rõ các vấn đề nêu trên nhằm giải quyết vụ án triệt để.

Sau khi thụ lý lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm (lần ba), Tòa án đã đưa UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An và UBND tỉnh B vào tham gia tố tụng.

Tại Công văn số 71/SXD - QLN ngày 07/01/2019 của Sở Xây dựng (được Ủy ban nhân dân tỉnh B ủy quyền) trả lời như sau:

“Qua biên bản kiểm kê tình hình quản lý, sử dụng nhà cửa ngày 01/12/1995 của Phòng Công nghiệp huyện T thì căn nhà này là nhà thuộc diện vắng chủ. Huyện T lúc bấy giờ đã bố trí cho hộ ông Lê Văn T17 - bà Trần Thị L4 để ở, đồng thời trong quá trình sử dụng hộ ông T17 - bà L4 có xin phép sửa chữa nhà và được UBND huyện T cấp giấy phép sửa chữa số 121 GP.XD ngày 12/6/1999. Ngày 12/7/2011, Sở Xây dựng nhận được Công văn số 1977/UBND-KTN ngày 07/7/2011 của UBND tỉnh B về việc cung cấp thông tin về trường hợp bà Tôn Nữ Thị T cho Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An. Qua nghiên cứu hồ sơ lưu trữ tại Sở Xây dựng và Công văn số 85/TA-DS ngày 01/7/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An về việc giải quyết khiếu nại của bà Tôn Nữ Thị Tuyết .1 Sở Xây dựng đã trả lời tại Văn bản số 2377/SXD-QLN.TTBĐS ngày 29/12/2011 về việc trả lời Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

Trên cơ sở, căn nhà nêu trên là nhà ở do Nhà nước đã đưa vào quản lý, bố trí cho ông T17 - bà L4 thuê, nhà không có tranh chấp, khiếu kiện và có hồ sơ mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước của ông Lê Văn T17 và bà Trần Thị L4 được Hội đồng bán nhà huyện D xem xét, kiểm tra lập các thủ tục trình Sở Xây dựng tham mưu trình UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1489/QĐ-CT ngày 29/12/2004 về việc bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất ở, giảm tiền mua nhà theo Quyết định số 64/1998/QĐ-TTg cho hộ bà Trần Thị L4 với diện tích ở 300m² và diện tích đất xây dựng là 123,84m².

Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà, đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà, đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà, đất.

[5]. Xét quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của ông Lê Văn T17 Hội đồng xét xử thấy rằng:

Như trên đã nhận định, ông T17 chỉ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền “tạm giao” quản lý, không có văn bản, quyết định nào của cơ quan có thẩm quyền giao cho ông T17 được quyền quản lý nhà, đất của bà T. Ngày 21/10/1996, UBND huyện T đã cấp chứng nhận QSDĐ cho ông T17, nhưng sau đó vào ngày 29/11/2000 Phòng Tài chính huyện T24 lại ký “Hợp đồng thuê tài sản” cho ông T17 thuê nhà, trong đó có diện tích đất 4.510 m² đã được cấp chứng nhận cho ông T17 (Bút lục 104) và ngày 29/12/2004 UBND tỉnh B ký Quyết định số: 1489/QĐ-CT bán nhà nhà và diện tích đất 300m2 đất ở cho bà L4 (BL 107). Nội dung mâu thuẫn trên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn bản số 3591/2024/CV-TA ngày 12/12/2024; Công văn bản số 129/2025/CV-TA ngày 05/02/2025; Công văn bản số 557/2025/CV-TA ngày 28/3/2025 yêu cầu UBND Thành phố D làm rõ, nhưng UBND Thành phố D không trả lời. Do đó, có cơ sở xác định diện tích đất nêu trên mặc dù ông T17 đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ nhưng Nhà nước vẫn không công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông T17. Do đó, ông T17 không có quyền quản lý, sử dụng đối với nhà, đất đang tranh chấp của bà T.

[6]. Theo quy định tại mục II của Nghị định số 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ quy định đối với nhà, đất vắng chủ là: “người lương thiện đi chữa bệnh, đi thăm viếng bà con, đi học tập ở nước ngoài; Những người tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến; những người là nhân dân lao động vì hoang mang sợ hãi bỏ chạy đi các nơi trước và trong những ngày giải phóng, thì được xem xét trả lại”. Thông tư 201/BXD - ND ngày 23/6/1978 của Bộ X1 hướng dẫn việc quản lý nhà, đất vắng chủ ở phía Nam quy định: “nhà, đất vắng chủ ở miền N là nhà, đất từ khi giải phóng miền N, người đứng tên sở hữu không có mặt ở địa phương không có lý do chính đáng và cũng không đăng ký cư trú tại một nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam”. Theo quy định trên, trường hợp của bà T là người dân lao động vì hoàn cảnh nên phải gửi nhà, đất lại nhờ người khác trông coi để đi chăm chồng bị bệnh, không phải ngụy quân, ngụy quyền... hay người dân bỏ đi nơi khác sinh sống không còn quan tâm và đã từ bỏ quyền quản lý, sử dụng nhà, đất của M2.

[7]. Sau ngày giải phóng, ngoài Biên bản kiểm kê 01/12/1995 Phòng Công nghiệp huyện T ghi nhận nhà, đất của bà T thuộc diện vắng chủ, thì trước đó không có văn bản nào khác của cơ quan có thẩm quyền cho rằng nhà đất của bà T vào diện nhà vắng chủ. Điều 3 Nghị quyết số: 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định: Văn bản quản lý Nhà nước trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà, đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991, trong đó có “văn bản kiểm kê” của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, thời điểm nhà, đất của bà T chính thức bị đưa vào diện nhà, đất thuộc diện vắng chủ do nhà nước quản lý là ngày 01/12/1995.

[8]. Quyết định số: 297/QĐ-CT ngày 02/10/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về giải quyết một số vấn đề về nhà; Thông tư số: 297/QĐ-CT ngày 02/10/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về giải quyết một số vấn đề về nhà ở; Thông tư số 383/TT-BXD-ĐT ngày 05/10/1991 của Bộ trưởng Bộ X1 hướng dẫn thi hành Quyết định số 297/CT ngày 02/10/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giải quyết một số vấn đề về nhà ở; Điều 2 của Luật Đất đai năm 1993; Điều 10 của Luật Đất đai năm 2003; và Điều 1 Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội quy định: “Nhà nước không xem xét lại trường hợp, chính sách và việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà, đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà, đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”. Như vậy, trường hợp nhà đất của bà T đến ngày 01/7/1991 mới có văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đưa vào diện nhà, đất vắng chủ. Nên không áp dụng Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội, mà áp dụng quy định của pháp luật dân sự để xem xét về nguồn gốc, tính hợp pháp của các đương sự về quyền sử dụng, sở hữu nhà, đất để giải quyết (Công văn số 169/2002/KHXX ngày 15 tháng 11 năm 2002 của Tòa án nhân dân tối cao).

[9]. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 331/2011/DS-GĐT ngày 29/4/2011 của Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nêu: cần làm rõ nhà, đất trên có thuộc diện vắng chủ hay không? Cần làm rõ năm 1983, ông T17 có đăng ký diện tích đất trên không? Nếu ông T17 đăng ký trong khi bà T tranh chấp thì tại sao UBND xã (nay là phường) Đông Hòa lại cho ông T17 đăng ký? Tại Biên bản kiểm kê tính hình quản lý, sử dụng nhà cửa (thuộc sở hữu Nhà nước) đối với nhà trên có ghi: “Nhà này chủ cũ xin lại, huyện đã xem xét để đề nghị trả lại, chờ quyết định của tỉnh”. Cần làm rõ Ủy ban nhân dân tỉnh C3 trả lại nhà cho bà T hay không? nếu không trả thì có văn bản trả lời cho bà T không? Việc UBND huyện T cấp quyền sử dụng đất cho ông T17 vào năm 1996 dựa trên cơ sở nào? Tại sao năm 2000 gia đình ông T17 mới ký hợp đồng thuê nhà với Nhà nước? Cần xác minh hồ sơ quản lý nhà, đất đang tranh chấp.

[10]. Các nội dung trên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng có Công văn: 3591/2024/CV-TA ngày 26/11/2024 đề nghị UBND tỉnh B và UBND thành phố D làm rõ, nhưng không lý giải được. Còn việc năm 1983, ông T17 có đăng ký diện tích đất hay không, tại Đơn xin xác nhận mất Giấy đăng ký đề ngày 22/02/1995 trong đó UBND xã Đ có xác nhận: năm 1983 ông T17 có đăng ký kê khai (BL 56). Nhưng trước khi ông T17 đăng ký kê khai, ngày 01/8/1975 bà T đã đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận đã đăng ký kê khai (BL 48, 2680).

[11]. Từ những chứng cứ nêu trên, kháng cáo của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là có là có căn cứ chấp nhận.

[12]. Xét, nhà và đất của bà T nêu trên, ông T17 được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 4.510m². Ngày 01/10/2023 ông Lê Văn T17 và bà Trần Thị L4 đã lập Di chúc cho 04 người con hưởng thừa kế: Lê Minh H diện tích đất 2.830m² và nhà trên đất; bà Lê Ngọc Đ, bà Lê Thị L, bà Lê Thị Ngọc M, mỗi người diện tích đất 600m². Ngày 20/4/2004, UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Đ, bà L, bà M mỗi người có diện tích 560m² (BL 764). Còn lại 2.830m² còn lại ông Lê Minh H đã được đăng ký, biến động để cấp đất sang tên ông H trên trang 4 của Giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ: 945 (BL 764). Xét việc ông T17, bà L4 định đoạt nhà, đất của bà T cho các ông H, bà Đ, bà M, bà L hưởng thừa kế là trái pháp luật, bị vô hiệu.

[13]. Tuy nhiên, ngày 31/5/2010 bà Đ, bà L, bà M đã chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Bá H1. Ngày 30/6/2010, ông H1 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay ông H1 đã chuyển nhượng lại cho các ông, bà: Văn Thư T6, Mai Văn L5, Hồ Văn N1, Mã Ngọc V, Nguyễn Văn B, Mai Văn T7, Nguyễn Xuân Q, Hoàng Vũ T8, Đặng Thái S, Lê Hữu T9, Nguyễn Tấn N2, Hoàng Khắc H2, Nguyễn Viết T19, Ngô Thanh N3, Trương Thị Hồng S1, Đinh Thị N4, Chung Văn T11, Phạm Thị H3, Võ Văn T12, Vũ Thị T23 và Vũ Thị Tuyết . Nên các giao dịch của ông H1, ông T6, ông L5, ông N1, ông V, ông B, ông T7, ông Q, ông T8, ông S, ông T9, ông N2, ông H2, ông T19, ông N3, bà S1, bà N4, ông T11, bà H3, ông T12, bà T23 và bà T, là thuộc trường hợp người thứ ba ngay tình, đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, xây nhà ở ổn định nên không bị vô hiệu. Do đó, bà Đ, bà L và bà M phải hoàn trả lại giá trị diện tích đất 1.644,4m² {theo Trích đo thực tế ngày 21/01/2019 (BL 883)} bằng tiền cho bà T theo Biên bản định giá ngày 03/8/2022. Loại đất nông nghiệp có giá 15.000.000đ/m², cụ thể: bà Đ phải hoàn trả 8.222.000.000đ, bà L phải hoàn trả 8.222.000.000đ, bà M phải hoàn trả 8.222.000.000₫ (548,13m² × 15.000.000đ/m² = 8.222.000.000₫).

[14]. Đối với diện tích đất 2.830m² ông H đang quản lý, sử dụng theo Giấy chứng nhận QSDĐ, nhưng theo Trích đo ngày 21/01/2019 (BL 883) diện tích đất nêu trên chỉ còn lại 2.403,6m², trong đó có diện tích 300m² đất ở và căn nhà có diện tích 123,84 m² bà Trần Thị L4 được mua hóa giá theo Quyết định số 1489/QĐ-CT ngày 29/12/2004 của UBND tỉnh B bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất ở (bút lục 107). Do đó, diện tích 300m² đất ở và căn nhà nêu trên là thuộc trường hợp giao dịch ngay tình nên ông H không phải trả lại nhà, đất cho bà T.

[15]. Sau khi trừ diện tích 300m² đất ở nêu trên, còn lại diện tích 2.103,6m² đất Nhà nước chưa bán hóa giá cho gia đình bà L4, hiện nay ông H đang quản lý, sử dụng nên ông H phải trả lại diện tích đất này cho bà T. Tuy nhiên, theo Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 16/11/2018 (BL 899) và Trích đo ngày 21/01/2019 (BL 883) thể hiện trên diện tích đất này gia đình ông H đã xây dựng nhiều căn nhà Kiot kiên cố, 02 ngôi mộ (xây dựng thành nhà mồ) nên không thể di dời được nên buộc ông H phải trả lại giá trị diện tích đất 2.103,6m² nêu trên bằng tiền cho bà T. Theo Biên bản định giá ngày 03/8/2022, loại đất nông nghiệp có giá 15.000.000đ/m² × 2.103,6m² = 31.554.000.000đ. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu ông H phải trả bằng hiện vật là không có căn cứ chấp nhận.

[16]. Đối với nhà ở và công trình kiến trúc (chuồng heo và hồ nước) của bà T xây dựng trên đất tranh chấp, nguyên đơn có kháng cáo. Nhưng tại phiên tòa phúc thẩm chị Nguyễn Thị Như Ý đã rút kháng cáo, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo đã rút nêu trên.

[17]. Do diện tích 2.103,6m² nêu trên ông H đang quản lý sử dụng, ông H đã phải hoàn trả lại cho bà T bằng tiền nên ông H được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng và không xem xét hủy Giấy chứng nhận QSDĐ số 945/QSDĐ ngày 21/10/1996 do UBND huyện T cấp cho ông Lê Văn T17, đã chỉnh lý trang 4 sang tên cho ông H.

[18]. Do bà T đã chết năm 2021, nên ông Hồ Nhật T1 (là con trai) là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà T được nhận toàn bộ số tiền nêu trên.

[19]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

[20]. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, giữ nguyên Bản án sơ thẩm, là không có căn cứ chấp nhận.

[21]. Chi phí tố tụng sơ thẩm:

Chi phí đo đạc, thẩm định giá: số tiền 17.952.793 đồng (mười bảy triệu chín trăm năm mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi ba đồng), ông Hồ Nhật T1 tạm ứng trước. Do đó, ông Lê Minh H, bà Lê Ngọc Đ, bà Lê Thị L, bà Lê Thị Ngọc M phải hoàn trả lại số tiền nêu trên cho ông T1 theo quy định của pháp luật.

[22]. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị L là người cao tuổi nên được miễn phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ông Lê Minh H, bà Lê Ngọc Đ, bà Lê Thị Ngọc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trả lại cho ông Hồ Nhật T1 (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà T) số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

[23]. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Nhật T1 không phải chịu án phí phúc thẩm.

[24]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 289; Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Như Ý về nhà ở và công trình kiến trúc (chuồng heo và hồ nước) có tranh chấp.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Như Ý (là người được ông Hồ Nhật T1 ủy quyền) và chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 22/2023/QĐ-VKS-DS của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2023/DS-ST ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Căn cứ: Các Điều 172, 188, 247 Bộ luật Dân sự năm 1995; Các Điều 127, 164, 265 Bộ luật Dân sự năm 2005; Các Điều 105, 115, 117, 122, 158, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 11, 31 Luật Nhà ở năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và nhà ở”.
    • Buộc bị đơn ông Lê Minh H phải trả cho nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T số tiền 31.554.000.000₫ (ba mươi mốt tỷ, năm trăm năm mươi bốn triệu đồng) [giá trị của diện tích 2.103,6 m² đất nông nghiệp];
    • Buộc bị đơn bà Lê Ngọc Đ phải trả cho nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T số tiền 8.222.000.000đ (tám tỷ, hai trăm hai mươi hai triệu đồng) [giá trị của diện tích đất 548,13m² đất nông nghiệp];
    • Buộc bị đơn bà Lê Thị L phải trả cho nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T số tiền 8.222.000.000đ (tám tỷ, hai trăm hai mươi hai triệu đồng) [giá trị của diện tích đất 548,13m² đất nông nghiệp];
    • Buộc bị đơn bà Lê Thị Ngọc M phải trả cho nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T số tiền 8.222.000.000đ (tám tỷ, hai trăm hai mươi hai triệu đồng) [giá trị của diện tích 548,13m² đất nông nghiệp].

    Do bà Tôn Nữ Thị T đã chết nên ông Hồ Nhật T1 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà T được nhận tất cả số tiền của 04 bị đơn phải trả nêu trên.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án nêu trên, cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Ông Lê Minh H được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất có ký hiệu (J) trên Mảnh trích lục địa chính 21/01/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố D, tọa lạc tại khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương và các tài sản trên đất.

  2. Chi phí đo đạc, thẩm định giá:
    • Bị đơn ông Lê Minh H phải trả cho nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T số tiền 10.788.000 đ (mười triệu, bảy trăm tám mươi tám nghìn đồng);
    • Bị đơn bà Lê Ngọc Đ phải hoàn trả cho nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T số tiền 2.388.000đ (hai triệu ba trăm tám mươi tám nghìn đồng);
    • Bị đơn bà Lê Thị L phải hoàn trả cho nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T số tiền 2.388.000đ (hai triệu ba trăm tám mươi tám nghìn đồng);
    • Bị đơn bà Lê Thị Ngọc M phải hoàn trả cho nguyên đơn bà Tôn Nữ Thị T số tiền 2.388.000đ (hai triệu ba trăm tám mươi tám nghìn đồng).

    Ông Hồ Nhật T1 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà T, được nhận số tiền chi phí tố tụng các bị đơn phải hoàn trả nêu trên.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Lê Thị L phải là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Lê Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 139.554.000đ (một trăm ba mươi chín triệu, năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng);

    Bà Lê Ngọc Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 116.222.000đ (một trăm mười sáu triệu, hai trăm hai mươi hai nghìn đồng);

    Bà Lê Thị Ngọc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 116.222.000đ (một trăm mười sáu triệu, hai trăm hai mươi hai nghìn đồng);

    Trả lại cho ông Hồ Nhật T1 (là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Tôn Nữ Thị T) số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 001571 ngày 31/01/2008 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện (nay là thành phố) D) và trả lại cho ông Hồ Nhật T1 số tiền 25.692.000đ (hai mươi lăm triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Dĩ An đã ủy thác cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã thi hành theo các Biên lai thu số 035804 ngày 15/4/2010; 035901 ngày 17/5/2010; 036046 ngày 18/6/2010; 036225 ngày 16/7/2010; 036366 ngày 16/8/2010; 036511 ngày 17/9/2010; 036580 ngày 18/10/2010 và 05008 ngày 10/11/2010.

  4. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Hồ Nhật T1 không phải chịu án phí phúc thẩm.

    Trả lại cho ông Hồ Nhật T1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số: 0012027 ngày 17/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Dương;
  • - Chi Cục THADS Quận 1, TPHCM;
  • - Đương sự (38);
  • - Lưu: HSVA (2), VP (5) 51B LTTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 656/2025/DS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và nhà ở.

  • Số bản án: 656/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và nhà ở.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về nhà ở và công trình kiến trúc (chuồng heo và hồ nước) có tranh chấp. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 22/2023/QĐ-VKS-DS của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2023/DS-ST ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger