|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 655/2024/DS-ST
Ngày 04-9-2024
V/v tranh chấp Hợp đồng
tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 749/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 379/2024/QĐXXST–DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 271/2024/QÐST–DS ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
Địa chỉ: A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền là ông Vũ Văn T, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: H T, phường A, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Vũ Bá H, sinh năm: 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: A tổ G, ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03.8.2023, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được, đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/7/2022, ông Vũ Bá H đã ký kết và thực hiện Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217800347/HDTD/HMP-VBH với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T1 với nội dung chính như sau:
- - Số tiền vay: 10.286.500.000 (Mười tỷ hai trăm tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.
- - Mục đích vay: vay mua bất động sản tại phường H, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- - Thời hạn cho vay: 360 tháng kể từ ngày 08/7/2022 đến ngày 08/7/2052; nợ lãi tính theo dư nợ thực tế, nợ gốc trả đều vào ngày 05 hàng tháng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 05/8/2023.
- - Lãi suất cho vay (VND): lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân 8,89%/năm, lãi suất cho vay trong hạn được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau thời hạn này, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ vào ngày làm việc đầu tiên của mỗi quý khi có sự thay đổi của Lãi suất cơ sở do Ngân hàng B từng thời kỳ. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng (=) Lãi suất cơ sở của Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng với (+) biên độ 4,19%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả.
- - Số tiền Ngân hàng đã giải ngân và ông Vũ Bá H đã nhận nợ: 10.286.500.000 (Mười tỷ hai trăm tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích 1.082m² (trong đó, 160m² đất ở, 922m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 903, tờ bản đồ số 14-3 tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH05963 do UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 19/12/2014, cập nhật thay đổi chủ sử dụng cho ông Vũ Bá H ngày 12/7/2022. Việc thế chấp đã được ông Vũ Bá H và Ngân hàng ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2217800347/HDTD/HMP-VBH ngày 12/7/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương, số công chứng: 5021, quyển số 07/2022; được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T ngày 13/7/2022.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Vũ Bá H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông Vũ Bá H trả nợ, nhưng ông H vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng, kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Tính đến ngày 04/9/2024, ông Vũ Bá H đã trả cho Ngân hàng số tiền lãi 223.268.033 (Hai trăm hai mươi ba triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn không trăm ba mươi ba) đồng, chưa trả nợ gốc.
Tính đến ngày 04/9/2024, ông Vũ Bá H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền sau:
- - Nợ gốc: 10.286.500.000 (Mười tỷ hai trăm tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 2.209.692.558 (Hai tỷ hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn năm trăm năm mươi tám) đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 228.823.282 (Hai trăm hai mươi tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi hai) đồng.
- - Tổng số tiền nợ là 12.725.015.840 (Mười hai tỷ bảy trăm hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm nghìn tám trăm bốn mươi) đồng.
Ông Vũ Bá H đã vi phạm các nghĩa vụ cam kết, thỏa thuận với Ngân hàng theo các Hợp đồng, văn bản đã ký với Ngân hàng.
Nay Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu ông Vũ Bá H thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 04/9/2024 là 12.725.015.840 (Mười hai tỷ bảy trăm hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm nghìn tám trăm bốn mươi) đồng, bao gồm nợ gốc 10.286.500.000 (Mười tỷ hai trăm tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng và nợ lãi 2.438.515.840 (Hai tỷ bốn trăm ba mươi tám triệu năm trăm mười lăm nghìn tám trăm bốn mươi) đồng, thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi tiếp tục phát sinh tính từ ngày 05/9/2024 theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực thi hành, nếu ông Vũ Bá H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau của khoản vay để xử lý thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích 1.082m² (trong đó, 160m² đất ở, 922m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 903, tờ bản đồ số 14-3 tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH05963 do UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 19/12/2014, cập nhật thay đổi chủ sử dụng cho ông Vũ Bá H ngày 12/7/2022.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Vũ Bá H vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông Vũ Bá H không đến Tòa nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Về phía bị đơn ông Vũ Bá H, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông H vẫn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn trình bày ý kiến tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo trình tự thủ tục pháp luật quy định đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Vũ Bá H là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại A tổ G, ấp E, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định nói trên theo quy định của pháp luật tố tụng nhưng bị đơn Vũ Bá H không đến, phiên tòa phải hoãn và Quyết định hoãn phiên tòa cũng được tống đạt hợp lệ cho ông H nhưng ông H vẫn không có mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Theo lời trình bày của đại diện nguyên đơn thì vào ngày 07/7/2022, ông Vũ Bá H do có nhu cầu tiêu dùng cá nhân nên có ký với Ngân hàng TMCP Đ hợp đồng cho vay từng lần với số tiền vay là 10.286.500.000 đồng (Mười tỷ hai trăm tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng. Ông Vũ Bá H đã trả cho Ngân hàng số tiền lãi 223.268.033 (Hai trăm hai mươi ba triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn không trăm ba mươi ba) đồng, chưa trả nợ gốc. Do ông H vi phạm cam kết không thực hiện việc thanh toán như hợp đồng đã thỏa thuận nên phát sinh tranh chấp.
Trong quá trình tố tụng, do bị đơn Vũ Bá H không đến Tòa để cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ để chứng minh và tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Hội đồng xét xử xét thấy, việc bị đơn Vũ Bá H không thanh toán tiền cho Ngân hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Vũ Bá H trả số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 04/9/2024 là 12.725.015.840 (Mười hai tỷ bảy trăm hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm nghìn tám trăm bốn mươi) đồng, bao gồm nợ gốc 10.286.500.000 (Mười tỷ hai trăm tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng và nợ lãi 2.438.515.840 (Hai tỷ bốn trăm ba mươi tám triệu năm trăm mười lăm nghìn tám trăm bốn mươi) đồng, thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi tiếp tục phát sinh tính từ ngày 05/9/2024 theo mức lãi suất được thỏa thuận theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Ông H không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng có quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Vũ Bá H vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Bị đơn Vũ Bá H vắng mặt, không có lời khai, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
Về án phí: Bị đơn Vũ Bá H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 91 Luật tổ chức tín dụng;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ:
Buộc ông Vũ Bá H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 04/9/2024 là 12.725.015.840 (Mười hai tỷ bảy trăm hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm nghìn tám trăm bốn mươi) đồng và tiền lãi phát sinh tiếp tục được tính từ ngày 05/9/2024 theo mức lãi suất được thỏa thuận theo hợp đồng cho đến khi ông Vũ Bá H trả xong khoản nợ cho Ngân hàng. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật.
Nếu ông Vũ Bá H không thanh toán được nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích 1.082m² (trong đó, 160m² đất ở, 922m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 903, tờ bản đồ số 14-3 tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH05963 do UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 19/12/2014, cập nhật thay đổi chủ sử dụng cho ông Vũ Bá H ngày 12/7/2022 để trả nợ cho Ngân hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Vũ Bá H vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Ông Vũ Bá H chịu án phí dân sự sơ thẩm là 120.725.016 (Một trăm hai mươi triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn không trăm mười sáu) đồng. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 59.541.486 (Năm mươi chín triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi sáu) đồng cho Ngân hàng TMCP Đ theo biên lai thu tiền số 0008048 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Đại diện nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hoa |
Bản án số 655/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 655/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hop dong tin dung
