Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 655/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17/6/2025.

V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lâm Thị Nga ;
  2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa .

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Phạm Thị Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2025/TLST – HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025,về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 777/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kiều P,sinh năm: 1981.(Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Trần Lâm V, sinh năm: 1983.(Có đơn xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: 7,khu phố F, phường H,Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn, bản tự khai và biên bản tiến hành hòa giải, nguyên đơn là bà Trần Thị Kiều P trình bày:

Bà Trần Thị Kiều P và ông Trần Lâm V tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận số 198 (Trích lục số 1499/TLKH-BS ngày 21/5/2018) do Ủy ban nhân dân phường H, quận A, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2018 . Trong quá trình sống chung, thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau vài năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông V thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về nhà kiếm chuyện cãi nhau và đánh đập bà P. Bà P và ông V đã ly thân từ tháng 01 năm 2025 đến nay. Bà P tạo điều kiện nhiều lần để hàn gắn gia đình nhưng ông V không thay đổi. Bà P rất mệt mỏi đối với cuộc hôn nhân này về tinh thần. Nay, bà P cảm thấy không còn niềm tin và thương yêu, quý trọng ông V nữa, không thể đoàn tụ được nữa, bà P đề nghị sớm được ly hôn để ổn định cuộc sống và tinh thần. Vì vậy, bà P yêu cầu ly hôn với ông Trần Lâm V.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 (một) con chung tên: Trần Lâm Quý B, sinh ngày: 24/3/2018. Nếu được ly hôn với ông V thì bà P trực tiếp nuôi dưỡng con, bà P không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà P xác định ông V và bà P tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Trần Thị Kiều P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn giữa bà với ông Trần Lâm V, lý do: bà P bận đi làm không thể xin nghỉ được, bà P vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong bản tự khai và biên bản hòa giải tại Tòa án, bà P không bổ sung hay thay đổi ý kiến gì thêm.

Tại bản tự khai và biên bản hòa giải tại Tòa án thì ông Trần Lâm V trình bày:

Ông V và bà P kết hôn theo Giấy chứng nhận số 198 (Trích lục số 1499/TLKH-BS ngày 21/5/2018) do Ủy ban nhân dân phường H, quận A, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2018 là đúng sự thật. Ông V còn thương yêu bà Trần Thị Kiều P nên không đồng ý ly hôn với bà P.

Về con chung: có 01 (một) con chung tên: Trần Lâm Quý B, sinh ngày: 24/3/2018. Nếu bà P ly hôn với ông V thì ông V đồng ý giao con cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng con theo nguyện vọng của con, ông V không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông V xác định để hai bên thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Trần Lâm V có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn giữa bà với bà Trần Thị Kiều P, lý do: ông Vũ B1 đi làm không thể xin nghỉ được, ông V vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong bản tự khai và biên bản hòa giải tại Tòa án, ông V không bổ sung hay thay đổi ý kiến gì thêm.

Tại bản tự khai của cháu Trần Lâm Quý B trình bày: nếu ba và mẹ ly hôn thì cháu B muốn sống với mẹ là bà Trần Thị Kiều P.

Tại phiên tòa ngày 16/6/2025, nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, phiên toà được tiến hành theo đúng trình tự pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Kiều P và bị đơn ông Trần Lâm V thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự .

- Về việc giải quyết vụ án:

  • + Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Kiều P với ông Trần Lâm V.
  • + Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên: Trần Lâm Quý B, sinh ngày: 24/3/2018 cho bà Trần Thị Kiều P trực tiếp nuôi dưỡng con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Lâm V đến khi có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Trần Thị Kiều P .
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, yêu cầu đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

    Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật “tranh chấp về ly hôn”. Bị đơn đang cư trú, sinh sống tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Về yêu cầu của đương sự:

    Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:

    Ông Trần Lâm V và bà Trần Thị Kiều P chung sống với nhau có đăng ký theo Giấy chứng nhận kết hôn số 198 (Trích lục số 1499/TLKH-BS ngày 21/5/2018) do Ủy ban nhân dân phường H, quận A, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2018 . Nay, bà Trần Thị Kiều P nộp đơn xin được ly hôn với ông Trần Lâm V.

    Về con chung: có 01 (một) con chung tên: Trần Lâm Quý B, sinh ngày: 24/3/2018 sẽ do bà Trần Thị Kiều P yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu B. Bà Trần Thị Kiều P không yêu cầu ôngTrần Lâm Vũ cấp dưỡng nuôi con .

    Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà P và ông V xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Ủy ban nhân dân phường HQuận A về tình trạng hôn nhân giữa hai vợ chồng ông Trần Lâm V và bà Trần Thị Kiều P thì: mâu thuẫn vợ chồng của ông V và bà P từ đầu năm 2025, bà P và ông V không sống chung từ khi mâu thuẫn xảy ra; ông V và bà P: có 02 con : Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 09/02/2014(khai sinh không có tên C) và Trần Lâm Quý B, sinh ngày:24/3/2018, hiện nay đang sống với mẹ là bà P nên chuyển Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Hội đồng xét xử xét thấy:

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về căn cứ cho ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên: Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

    Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, hai vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc,trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái, mặc dù Tòa án hòa giải nhiều lần nhưng các bên đương sự không thể hàn gắn để đoàn tụ. Xét thấy, đời sống chung của vợ chồng nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử, xét thấy có đủ cơ sở thực tế và căn cứ pháp lý chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

    Về con chung: theo Đơn ly hôn cũng như tại bản tự khai, các buổi hòa giải tại Tòa án thì bà P và ông V xác định có 01 (một) con chung tên: Trần Lâm Quý B, sinh ngày: 24/3/2018.

    Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân phường HQuận A thì bà P và ông V có 02 con : Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 09/02/2014 (khai sinh không có tên C) và Trần Lâm Quý B, sinh ngày :24/3/2018, hiện nay đang sống với mẹ là bà P.

    Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: căn cứ tài liệu (Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh), yêu cầu trong Đơn ly hôn và lời tự khai cũng như tại các biên bản hòa giải tại Tòa án của bà P và ông V xác định ông V và bà P chỉ có 01 con chung là cháu Trần Lâm Quý B, sinh ngày: 24/3/2018. Nếu bà P được ly hôn với ông V thì ông V đồng ý giao con cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng con theo nguyện vọng của con, ông V không cấp dưỡng nuôi con.

    Vì lợi ích của con, đảm bảo sự ổn định về tinh thần, sức khỏe trong cuộc sống, trong học tập nên căn cứ theo quy định tại Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn; việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xét thấy, nguyện vọng của bà Trần Thị Kiều P là có cơ sở vì hiện nay, bà P là người trực tiếp sống chung để chăm nom, quan tâm chăm sóc con và đưa đón con đi học từ nhỏ cho đến nay, vậy nên giao con là cháu Trần Lâm Quý B cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng là thỏa đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà P và ông V xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

  3. Về án phí:

    Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn nên nguyên đơn là bà Trần Thị Kiều P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 208, 227,228, 233 và 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kiều P được ly hôn với ông Trần Lâm V.

      Giấy chứng nhận kết hôn số 198 (Trích lục số 1499/TLKH-BS ngày 21/5/2018) do Ủy ban nhân dân phường H, quận A, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2018 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

    2. Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên: Trần Lâm Quý B, sinh ngày: 24/3/2018 cho bà Trần Thị Kiều P trực tiếp nuôi dưỡng con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Lâm V đến khi có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Trần Thị Kiều P .

      Vì lợi ích của con chung, các bên không được quyền ngăn cản việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, được quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; các bên và cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con.

    3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Kiều P và ông Trần Lâm V xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    4. Về nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Trần Thị Kiều P và ông Trần Lâm V xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí:

    Bà Trần Thị Kiều P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0083826 ngày 27/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Kiều P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình.

  3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6;6a;7;7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

  4. Quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày,kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - UBND phường Hiệp Thành, quận 12, tp.Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 655/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 655/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger