Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 655/2025/DS-PT

Ngày: 25-12-2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.

Các Thẩm phán: Ông Lâm Triệu Hữu;

Bà Sơn Nữ Phà Ca.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 394/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 528/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà dân sự phúc thẩm số: 363/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1973;

Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long).

Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Phạm Đăng K, sinh năm 1982; Địa chỉ: A, ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long). (Có mặt)

- Bị đơn:

Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1975;

Ông Phan Chí B, sinh năm 1971;

Cùng địa chỉ: A H, Khu phố C, Phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long).

Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, ông B:

+ Bà Trần Ngọc Quế A, sinh năm 2002; địa chỉ: G, ấp S, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là phường A, tỉnh Vĩnh Long). (Có mặt)

+ Ông Lê Hữu T2, sinh năm 1984; địa chỉ: E, ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường A, tỉnh Vĩnh Long). (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ liên hệ: 93C, Đ, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là khu phố B, phường B, tỉnh Vĩnh Long).

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Phan Chí B, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Đăng K trình bày:

Do mối quen hệ quen biết nên ngày 28/12/2023, bà T có cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Phan Chí B vay số tiền là 1.700.000.000 đồng, mục đích vay để chi tiêu sinh hoạt trong gia đình. Bà T1 có ký biên nhận vay tiền, ông B có biết việc vay tiền này bởi vì ông B, bà T1 là vợ chồng hợp pháp; các bên thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng, thời hạn vay là 10 ngày. Trong quá trình vay nợ thì bà T1, ông B có trả được cho bà T số tiền 115.000.000 đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng và 15.000.000 đồng tiền lãi. Đến nay bị đơn không có trả nợ cho nguyên đơn nên nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà T1 và ông B có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền là 1.600.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 28/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 20%/năm.

Theo bản tự khai, biên bản hòa giải và trong quá trình tố tụng ông Lê Hữu T2, bà Trần Ngọc Quế A là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Phan Chí B trình bày:

Bà T1 thừa nhận có vay tiền của bà T nhiều lần, đến ngày 28/12/2023 các bên chốt lại số nợ là 1.700.000.000 đồng, bà T cho bà T1 vay tiền thỏa thuận mức lãi suất là 12%/tháng, bà T1 có ký tên vào hợp đồng cho vay tiền ngày 28/12/2023. Bà T1 đã trả được cho nguyên đơn số nợ gốc 100.000.000 đồng và 15.000.000 đồng tiền lãi. Hiện tại bà T1 và ông B vẫn sống chung với nhau tại nhà mẹ ruột của ông B tại địa chỉ số A đường H, phường A, tỉnh Vĩnh Long, khi ông B bị bệnh thì bà T1 là người chăm sóc nhưng chi phí sinh hoạt gia đình do bên gia đình ông B chi tiêu, còn bà T1 tự làm kiếm tiền để tiêu xài riêng chứ không có đưa tiền cho ông B.

Nay, bà T1 đồng ý trả số nợ gốc còn lại cho bà T là 1.600.000.000 đồng và đồng ý trả lãi 10%/tháng, yêu cầu khấu trừ số tiền lãi 15.000.000 đồng mà bà T1 đã trả cho nguyên đơn. Đồng thời, bà T1 cho rằng đây là khoản vay riêng của bà T1 chứ không có liên quan đến ông B, khi vay tiền của bà T thì bà T1 không có nói với ông B việc vay tiền này, bà T1 vay tiền nhằm mục đích cho vay lại, chứ không phải nhằm mục đích sinh hoạt gia đình.

Theo ý kiến của ông Phan Chí B thì ông hoàn toàn không biết việc vay tiền của bà T và bà T1; ông B cũng không có sử dụng khoản tiền này; ông B có biết bà T vì bà T là của bạn bà T1 còn việc bà T và bà T1 có vay tiền như thế nào ông không rõ nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thừa nhận tại Điều 3 Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/12/2023, ghi “(lãi 2K) thỏa thuận 2 bên”, tuy nhiên các bên thỏa thuận với nhau mức lãi suất là 12%/tháng vì đây là tiền vay ngắn hạn và phía bị đơn chỉ trả cho nguyên đơn 15.000.000 đồng tiền lãi và 100.000.000 đồng tiền gốc. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thừa nhận bà T cho bà T1 vay tiền với mức lãi suất thỏa thuận 12%/tháng, bà T1 có trả được cho bà T 15.000.000 đồng tiền lãi và 100.000.000 đồng tiền gốc.

Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long đã tuyên:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T; buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1 và ông Phan Chí B có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Phương T số tiền 2.107.666.667 (hai tỷ, một trăm lẻ bảy triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy) đồng, trong đó nợ gốc 1.600.000.000 (một tỷ, sáu trăm triệu) đồng, nợ lãi 507.666.667 (năm trăm lẻ bảy triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy) đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, lãi chậm thi hành án, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 29/8/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Phan Chí B thông qua người đại diện theo uỷ quyền là bà Trần Ngọc Quế A có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nội dung yêu cầu kháng cáo gồm bà T1 chỉ đồng ý trả lãi với mức lãi suất 10%/tháng, không đồng ý mức lãi suất 20%/năm do có tranh chấp về lãi; ông B không đồng ý về việc buộc ông B có trách nhiệm liên đới cùng bà T1 trả tiền cho nguyên đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.

- Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị đơn; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Phan Chí B và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Phan Chí B thông qua người đại diện theo uỷ quyền là bà Trần Ngọc Quế A kháng cáo đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T khởi kiện yêu cầu các bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Phan Chí B có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 1.600.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 28/12/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, lãi suất 20%/năm. Bà T1 đồng ý trả số nợ gốc 1.600.000.000 đồng cho bà T và chỉ đồng ý trả lãi suất 10%/tháng, yêu cầu khấu trừ số tiền lãi 15.000.000 đồng đã trả. Ông B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông B có trách nhiệm liên đới cùng với bà T1 trả tiền cho nguyên đơn.

Xét kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Các bên đương sự thống nhất bà T1 có vay tiền của bà T số tiền là 1.700.000.000 đồng theo hợp đồng cho vay tiền ngày 28/12/2023; bà T1 trả được 100.000.000 đồng tiền gốc nên số nợ gốc còn nợ là 1.600.000.000 đồng. Bà T1 thừa nhận số tiền nợ gốc bà T1 còn nợ bà T là 1.600.000.000 đồng và đồng ý trả số nợ này là tình tiết không phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Các bên không có yêu cầu kháng cáo đối với số tiền vay gốc còn nợ là 1.600.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[2.2] Xét yêu cầu về lãi: Bà T yêu cầu tính lãi số tiền nợ gốc với mức lãi suất 20%/năm từ ngày 28/12/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, tuy nhiên bà T1 không đồng ý. Bà T1 chỉ đồng ý trả lãi với mức lãi suất là 10%/năm do cho rằng có tranh chấp về lãi suất. Hội đồng xét xử nhận thấy, Điều 3 của Hợp đồng cho vay tiền ngày 28/12/2023 được các bên thừa nhận có nội dung lãi suất theo “thỏa thuận 2 bên”, đồng thời theo sự thừa nhận của các bên đương sự tại phiên tòa sơ thẩm thì việc bà T cho bà T1 vay tiền 1.700.000.000 đồng có thỏa thuận mức lãi suất là 12%/tháng; bị đơn trả được 15.000.000 đồng tiền lãi là các tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Các bên đương sự đều thống nhất thừa nhận mức lãi suất theo thỏa thuận là 12%/tháng nên không thuộc trường hợp có tranh chấp về lãi suất. Tuy nhiên, lãi suất theo thỏa thuận của các bên vượt quá mức lãi suất tối đa theo quy định là 1,66%/tháng (20%/năm) không phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; do đó trường hợp này cần áp dụng mức lãi suất tối đa mà pháp luật quy định. Như vậy, bà T yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 20%/năm là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự nên Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà T là có cơ sở.

[2.3] Xét yêu cầu về trách nhiệm liên đới trả nợ của ông Phan Chí B: Bà T cho rằng ông B, bà T1 là vợ chồng hợp pháp, đang chung sống, mục đích vay tiền là chi tiêu trong gia đình nên bà khởi kiện yêu cầu ông B, bà T1 có trách nhiệm liên đới trả nợ cho bà. Bà T1, ông B không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà T. Ông B và bà T1 đều khẳng định ông B không biết việc bà T1 vay tiền bà T nêu trên, bà T1 vay tiền để sử dụng riêng, ông B không sử dụng số tiền này. Về nội dung này, căn cứ vào hồ sơ vụ án và sự thừa nhận của các đương sự xác định bà T1 và ông B là vợ chồng, có đăng ký kết hôn năm 1993 nên hôn nhân của bà T1, ông B là hôn nhân hợp pháp, bà T1 và ông B đang sống chung với nhau; ông B bệnh thì bà T1 là người trực tiếp chăm sóc ông B. Mặc dù bà T1 xác định chi phí chăm sóc ông B lúc bệnh là của gia đình ông B chứ không phải của bà T1 nhưng bà chỉ trình bày mà không cung cấp chứng cứ để chứng minh. Người đại diện của bà T1 thừa nhận việc bà T1 vay tiền bà T là để bà cho vay lại kiếm tiền lời, mặc dù phía bà T1 cho rằng tiền lời từ việc cho vay lại được bà T1 sử dụng để tiêu xài cá nhân chứ không nhằm phục vụ cuộc sống gia đình nhưng bà không chứng minh được lời trình bày. Xét thấy, việc bà T1 cho vay lại kiếm tiền lời là một hoạt động nhằm tạo ra thu nhập phục vụ đời sống kinh tế trong gia đình, vợ chồng đang chung sống; bà T1, ông B chỉ trình bày mà không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc vợ chồng làm ăn riêng, có cuộc sống kinh tế riêng. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét lời trình bày của ông B, bà T1 nên về nguyên tắc nghĩa vụ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình là nghĩa vụ chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Tòa án sơ thẩm xác định ông B phải có trách nhiệm liên đới cùng bà T1 trả số tiền nợ cho bà T là có căn cứ theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở, đương sự không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Phan Chí B.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long.

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1 và ông Phan Chí B có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Phương T số tiền 2.107.666.667đ (hai tỷ một trăm lẻ bảy triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc 1.600.000.000đ (một tỷ sáu trăm triệu đồng), nợ lãi 507.666.667 (năm trăm lẻ bảy triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 và ông Phan Chí B phải liên đới chịu án phí là 74.153.333đ (bảy mươi bốn triệu một trăm năm mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).

H lại cho bà Nguyễn Thị Phương T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 39.812.000đ (ba mươi chín triệu tám trăm mười hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011515 ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Vĩnh Long).

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thu T1 phải chịu án phí phúc thẩm số tiền 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002381 ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Nguyễn Thị Thu T1 đã nộp xong án phí.

Ông Phan Chí B phải chịu án phí phúc thẩm số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002383 ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Ông Phan Chí B đã nộp xong án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND KV5-Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS KV5-VL;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 655/2025/DS-PT ngày 25/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 655/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger