Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 654/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-5-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thạch Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Long;
  2. Bà Phan Thị Xuân Hương.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1384/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 212/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1993;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

Tạm trú: Đường N, Tổ E, Khu phố A, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Phạm Vũ Nhật K, sinh năm 1991;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đ, thôn X, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.

Tạm trú: Đường N, Tổ E, Khu phố A, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 06/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông Phạm Vũ Nhật K tự nguyện chung sống với nhau năm 2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng những năm gần đây thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung. Bà và ông K đã ly thân từ năm 2022. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Vũ Nhật K.

Về con chung: Bà và ông K có 02 (hai) con chung tên Phạm Khánh P, sinh ngày 21/10/2015 và Phạm Khánh H1, sinh ngày 24/5/2021. Sau khi ly hôn, bà giao cháu Phạm Khánh P cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Khánh H1. Hai bên không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà H xác định không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H xác định không có.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Phạm Vũ Nhật K thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông K đều vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Vũ Nhật K; về con chung: Bà H giao cháu Phạm Khánh P, sinh ngày 21/10/2015 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Khánh H1, sinh ngày 24/5/2021. Hai bên không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà H xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 06/11/2023, bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Vũ Nhật K; bà H và ông K có 02 (hai) con chung tên Phạm Khánh P, sinh ngày 21/10/2015 và Phạm Khánh H1, sinh ngày 24/5/2021. Bà giao cháu Phạm Khánh P cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Khánh H1; hai bên không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là ông Phạm Vũ Nhật K có nơi cư trú tại đường N, Tổ E, Khu phố A, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng:

Bị đơn là ông Phạm Vũ Nhật K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên tòa vắng mặt ông K theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Vũ Nhật K tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44/2014, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 03/6/2014. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét trình bày của bà H, bà và ông K tự nguyện chung sống năm 2014. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng những năm gần đây thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung. Bà và ông K đã ly thân từ năm 2022. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Vũ Nhật K.

Xét ông Phạm Vũ Nhật K không đến Tòa án theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho thấy ông K không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng với bà H. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét các tài liệu, chứng cứ do bà H cung cấp để giải quyết vụ án. Xét tình trạng quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông K đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông K là có cơ sở.

[4] Về con chung:

Bà H và ông K có 02 (hai) con chung tên Phạm Khánh P, sinh ngày 21/10/2015 và Phạm Khánh H1, sinh ngày 24/5/2021. Bà H giao cháu Phạm Khánh P cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Khánh H1. Hai bên không cấp dưỡng nuôi con. Xét cháu Phạm Khánh P đang sống với ông K và cháu Phạm Khánh H1 đang sống với bà H; đồng thời, tại bản tự khai ngày 22/01/2024 của cháu Phạm Khánh P trình bày nguyện vọng muốn sống với ba. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Phạm Khánh P cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Phạm Khánh H1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu cấp cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của bà H, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Nếu sau này bà H và ông K có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

[5] Về tài sản chung: Bà H xác định không có.

[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H xác định không có.

Ông Phạm Vũ Nhật K vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, nếu ông K có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H về việc cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Vũ Nhật K.

Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 44/2014, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 03/6/2014 cho bà H và ông K không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Bà H và ông K có 02 (hai) con chung Phạm Khánh P, sinh ngày 21/10/2015 và Phạm Khánh H1, sinh ngày 24/5/2021.

Giao con chung tên Phạm Khánh P cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung tên Phạm Khánh H1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

5. Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0018754 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

6. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký, đóng dấu)

Huỳnh Thạch Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 654/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 654/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger