|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 653/2023/HS-ST Ngày 28 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Kim Kiên - Phó Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hòa.
- Bà Nguyễn Thị Bích Thủy - Phó Chủ tịch Liên đoàn lao động thành phố Biên Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 649/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 668/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Đoàn Khoa H, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2002 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 173/1, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: 173/1, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Việt N và bà Nguyễn Thị Trúc L; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại: Cháu Nguyễn Hoàng Yến N1, sinh ngày 11/01/2006.
Địa chỉ hiện nay: B, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hoàng Yến N2: Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1989 (mẹ ruột).
Địa chỉ: B, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Nguyễn Trung T1 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Bị cáo, bị hại, Luật sư, người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Khoa Học, sinh ngày 08/5/2002 và cháu Nguyễn Hoàng Yến N1, sinh ngày 11/01/2006, nơi cư trú: B, khu phố E, phường H, thành phố B có mối quan hệ tình cảm với nhau. Từ ngày 20/12/2020 đến khoảng tháng 4/2021, lợi dụng cháu N1 còn nhỏ tuổi, hạn chế hiểu biết, Đoàn Khoa Học đã giao cấu với cháu N1 06 lần, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 20/12/2020, Đoàn Khoa Học chở cháu Nguyễn Hoàng Y N1 đi ăn tại phường T, thành phố B. Sau đó, H chở cháu N1 về nhà của N1 tại số B, khu phố E, phường H, thành phố B. Tại đây, vào khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, được sự đồng ý của cháu N1, H đã cởi quần áo của mình và của cháu N1 ra, sau đó giao cấu với cháu N1 01 (một) lần.
Lần thứ hai: Khoảng đầu tháng 02/2021, cháu N1 phát hiện mình có thai nên nói cho gia đình biết. Sau đó, N1 đến sống tại nhà Học địa chỉ số A, khu phố C, phường T, thành phố B. Vào khoảng 22 giờ ngày (không rõ) tháng 02/2021 tại phòng ngủ của H (phía trên gác), được sự đồng ý của cháu N1, H đã giao cấu với cháu N1 01 (một) lần.
Lần thứ ba: Vào khoảng 22 giờ, ngày (không rõ) tháng 02/2021 (cách lần thứ hai khoảng 01 tuần) tại phòng ngủ của Học, được sự đồng ý của cháu N1, H đã giao cấu với cháu N1 01 (một) lần.
Lần thứ tư: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày (không rõ) tháng 02/2021 (cách lần thứ ba khoảng 01 tuần) tại phòng ngủ của Học, được sự đồng ý của cháu N1, H đã giao cấu với cháu N1 01 (một) lần.
Lần thứ năm: Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày (không rõ) tháng 4/2021, tại giường ngủ trong phòng khách của nhà cháu N1 địa chỉ số B, khu phố E, phường H, thành phố B, được sự đồng ý của cháu N1, H đã giao cấu với cháu N1 01 (một) lần.
Lần thứ sáu: Khoảng 23 giờ, ngày (không rõ) tháng 4/2021 (cách lần thứ 5 khoảng 01 tuần) cũng trên giường ngủ tại phòng khách của nhà cháu N1 địa chỉ nêu trên, được sự đồng ý của cháu N1, H đã giao cấu với cháu N1 01 (một) lần.
Vào khoảng tháng 8/2021, cháu N1 tiếp tục quay lại nhà H ở đến ngày 08/10/2021 thì N1 sinh con gái đặt tên là Nguyễn Ngọc N3. Sau đó, giữa gia đình H và gia đình cháu N1 phát sinh mâu thuẫn nên gia đình cháu N1 đưa N1 về nhà.
Ngày 06/6/2022, bà Nguyễn Thị Thùy T (mẹ cháu N1) tố cáo hành vi của H đến Công an phường H. Công an phường H đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 1189/TD/2022 ngày 02/11/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y1 kết luận đối với cháu Nguyễn Hoàng Yến N2: Màng trinh hình vành khăn, đường kính lỗ trinh 02cm, màng trinh rách cũ vị trí 03 giờ, bờ mép vết rách không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 0031/ĐT/2023 ngày 17/01/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y1 kết luận đối với Đoàn Khoa Học như sau: Độ tuổi của Đ Khoa Học là 20 tuổi 06 tháng (+/- 06 tháng) kể từ ngày giám định 12/01/2023.
- Tại đơn xin xác nhận ngày 05/01/2006 của chị Nguyễn Thị Trúc L (mẹ Đoàn Khoa Học) được Bệnh viện Đ1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác nhận ngày 08/5/2002 chị L sinh con thứ ba phù hợp với thời gian ghi trên giấy khai sinh của H.
- Tại kết luận giám định số 3940/KL-KTHS ngày 20/9/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C kết luận: Nguyễn Hoàng Y Ngọc có quan hệ huyết thống mẹ-con với cháu Nguyễn Ngọc N3. Đoàn Khoa Học không có quan hệ huyết thống cha-con với cháu Nguyễn Ngọc N3.
Tại Cáo trạng số 642/CT-VKSBH ngày 27 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Đ Khoa Học về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Đ Khoa Học phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Đ Khoa Học từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Đ Khoa Học phải bồi thường 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng), bị cáo H đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền trên và tại phiên tòa bị cáo đã bồi thường cho bị hại 10.000.000đ (mười triệu đồng), 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) còn lại sẽ giao sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận giữa bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:
Thống nhất về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Mức bồi thường thiệt hại cho bị hại là phù hợp nên không có ý kiến. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định của pháp luật tuyên một bản án hợp lý.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
-
Lời khai nhận tội của bị cáo Đ Khoa Học có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Từ ngày 20/12/2020, đến khoảng tháng 4/2021, tại nhà cháu Nguyễn Hoàng Y N2 địa chỉ: B, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và tại nhà Đ Khoa Học địa chỉ: 1, khu phố C, phường T, thành phố B, được sự đồng ý của cháu N2, Đoàn Khoa H1, sinh ngày 08/5/2002 có hành vi 06 lần giao cấu với cháu N2, sinh ngày 11/01/2006 khi cháu N2 dưới 16 tuổi.
Hành vi của bị cáo Đoàn Khoa H1 đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tình dục trẻ em gây hậu quả xấu cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, sức khỏe và danh dự, nhân phẩm của bị hại. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự), thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã tự thỏa thuận được mức bồi thường thiệt hại về tổn thất và tinh thần cho cháu Yến N2 số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng), và tại phiên tòa đã giao 10.000.000đ (mười triệu đồng), 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) còn lại thỏa thuận sẽ giao sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường cho bị hại theo quy định.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố bị cáo Đ Khoa H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Đ Khoa Học 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Đ Khoa Học bị bắt đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, 592 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Đoàn Khoa H1 bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000₫ (hai mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đ Khoa Học phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Linh Thu Hồng |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
||
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Lý Thị Bạch Tuyết |
Nguyễn Văn Ba |
Nguyễn Thị Phụng |
6
Bản án số 653/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 653/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Khoa Học Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
