Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 653/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-8-2024

V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Anh Ngọc

2. Bà Trương Thị Lệ Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 244/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 560/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 744/2024/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ly L, sinh năm 1985;

Hộ khẩu thường trú: Số E đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: Số nhà B Đường số D, thôn T, phường Đ, huyện Đ, tỉnh Quãng Nam.

- Bị đơn: Ông Lăng Văn T, sinh năm 1978;

Hộ khẩu thường trú: Tổ D, Ấp A, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Tạm trú: Số A đường D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2024, trong bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Ly L trình bày:

Bà và ông Lăng Văn T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2012, quyển số 01/2011 ngày 14/02/2012 do UBND xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp. Thời gian đầu hai bên chung sống hạnh phúc nhưng từ đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do lối sống không phù hợp giữa vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống chung rất nặng nề, mệt mỏi. Hai bên đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2020 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên bà L xin được ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Giữa bà và ông Lăng Văn T có 02 con chung là Lăng Trần Thúy An N, sinh ngày 02/02/2011 và Lăng Trần Trí B, sinh ngày 19/12/2015. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà L xác nhận không có.

Về nợ chung: Bà L xác nhận không có.

Bị đơn ông Lăng Văn T: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông Lăng Văn T Thông báo thụ lý và Giấy triệu tập đương sự đến Tòa trình bày ý kiến cũng như tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 29/5/2024. Tuy nhiên, bị đơn ông Lăng Văn T vắng mặt không lý do, đồng thời cũng không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình. Bà Trần Thị Ly L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Do đó Tòa án tiến hành lập biên bản về việc không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Nguyên đơn bà Trần Thị Ly L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • - Bị đơn ông Lăng Văn T đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa vào các ngày 10/7/2024 và 07/8/2024 nhưng ông T vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, Điều 171, Điều 173, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 248 và Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Ly L và ông Lăng Văn T chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên quan hệ giữa hai bên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa 2 người phát sinh mâu thuẫn, bà L yêu cầu ly hôn, ông T không đến Tòa án cũng không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà L. Hai bên có 02 con chung là Lăng Trần Thúy An N1, sinh ngày 02/02/2011 và Lăng Trần Trí B, sinh ngày 19/12/2015. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung vfa không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung bà L xác nhận trong thời kỳ hôn nhân giữa bà và ông T không có tài sản chung hay nợ chung. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, yêu cầu của bà L là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ Đơn khởi kiện của bà Trần Thị Ly L, Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp về ly hôn. Do bị đơn ông Lăng Văn T hiện đang cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại các khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Thị Ly L và bị đơn ông Lăng Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa vào các ngày 10/7/2024 và 07/8/2024 theo Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 220, khoản 3 Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận Tân Phú tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Trần Thị Ly L và bị đơn ông Lăng Văn T.

3. Về yêu cầu của các đương sự:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ly L xin được ly hôn với ông Lăng Văn T do mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn.

Bà Trần Thị Ly L và ông Lăng Văn T chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2012, quyển số 01/2011 ngày 14/02/2012 tại UBND xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai nên quan hệ giữa bà L và ông T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa bà L và ông T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà L xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống về cách chăm sóc con, chi tiêu tiền bạc... Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên bất hòa, tranh cãi khiến đời sống hôn nhân căng thẳng, mệt mỏi, mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được. Hai bên đã sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Thời gian ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, mạnh ai nấy sống, hai bên không quan tâm đến nhau, không ai có thiện chí chủ động tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nên bà L xin ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống. Phía ông T, mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tòa để trình bày ý kiến, tham gia các phiên hòa giải, xét xử nhưng ông T đều không đến tòa để hòa giải mâu thuẫn vợ chồng và tìm cách hàn gắn tình cảm, cho thấy ông T đã không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông T là có thật, hai bên đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay, không đảm bảo tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, mâu thuẫn hôn nhân giữa bà L và ông T là trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp.

  • - Về con chung: Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung Lăng Trần Thúy An N1, sinh ngày 02/02/2011; Lăng Trần Trí B, sinh ngày 19/12/2015 và không yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Bà Trần Thị Ly L xác nhận bà và ông Lăng Văn T có 02 con chung là Lăng Trần Thúy An N1, sinh ngày 02/02/2011 và Lăng Trần Trí B, sinh ngày 19/12/2015. Hiện nay 02 trẻ đang sống cùng bà L, do trẻ còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn nên bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu nuôi con của bà L. Xét thấy, để ổn định cuộc sống và tâm lý của trẻ, yêu cầu của bà L về việc nuôi con là phù hợp với quy định Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Bà L xác nhận không có.

Bà Trần Thị Ly L xác nhận quá trình sống chung giữa bà và ông T không có tài sản chung cũng như nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nguyên đơn bà Trần Thị Ly L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 233, Điều 273 và Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ:

Khoản 2 Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ly L.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ly L được ly hôn với ông Lăng Văn T.

Quan hệ hôn nhân của bà L và ông T chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2012, quyển số 01/2011 ngày 14/02/2012 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp cho bà L và ông T không còn giá trị pháp lý.

  • - Về con chung: Bà L xác nhận có 02 con chung là Lăng Trần Thúy An N1, sinh ngày 02/02/2011 và Lăng Trần Trí B, sinh ngày 19/12/2015. Giao cả 02 con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T do bà L không yêu cầu.

+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa giải quyết.

+ Trong trường hợp bà L không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, ông T hoặc bà L hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

+ Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

+ Trường hợp ông T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

  • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận không có tài sản chung hay nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Ly L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng bà L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007781 ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Bà Trần Thị Ly L và ông Lăng Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc niêm yết bản sao án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - UBND xã Cẩm Đường, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 653/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về xin ly hôn

  • Số bản án: 653/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger