|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 652/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-7-2024
V/v tranh chấp về ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Duy Linh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Hữu Tâm – Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên.
Vào ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 209/2024/TLST–HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 357/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 tháng 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 342/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lý Bạch P, sinh năm: 1981;
Địa chỉ: A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Tiêu Chấn L, sinh năm: 1969;
Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà P có đơn xin giải quyết vắng mặt, ông L vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/02/2024, bản tự khai ngày 01/4/2024, nguyên đơn bà Lý Bạch P trình bày:
Bà và ông Tiêu Chấn L bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2020, không tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu đến với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 21/8/2020. Thời gian đầu ông bà chung sống với nhau rất hạnh phúc, không có gì xảy ra, sau đó ông bà phát sinh mâu thuẫn, do ông L sống vô tâm, vô cảm và thường xuyên có những lời nói sát thương bà, bạo hành bà về tinh thần cũng như có sử dụng bạo lực đối với bà, bà đã nộp đơn ly hôn đối với ông L nhưng sau đó rút đơn để cho ông L cơ hội sửa đổi và vợ chồng hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, đến nay ông L vẫn không thay đổi, mâu thuẫn giữa ông bà ngày càng trầm trọng hơn. Ông bà sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn cuộc sống chung không còn ý nghĩa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà và ông L có một con chung là trẻ Tiêu Chấn H, sinh này 03/9/2020. Hiện tại trẻ H đang sống cùng bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Hào, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Quá trình chung sống bà và ông L không có tài sản chung và nợ chung.
Ngoài ra, bà không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Tiêu Chấn L vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến giải quyết vụ án về nội dung như sau:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228 và Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ Điều 51, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lý Bạch P đối với ông Tiêu Chấn L. Giao con chung là trẻ Tiêu Chấn H, sinh này 03/9/2020 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông L. Về tài sản chung và nợ chung: không có. Bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
[1] Bà Lý Bạch P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Tiêu Chấn L. Ông L đang cư trú C2/30C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Lý Bạch P có đơn yêu giải quyết vắng mặt; ông Tiêu Chấn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[3] Về quan hệ vợ chồng: Bà Lý Bạch P và ông Tiêu Chấn L chung sống có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 125 ngày 21/8/2020. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông L là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2
[4] Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.”
[5] Bà P xác nhận bà và ông L chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, ông bà đã sống ly thân từ tháng 08/2023 cho đến nay. Theo Công văn số 1537/UBND ngày 09/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho biết Ủy ban nhân dân xã V không rõ mâu thuẫn giữa bà Lý Bạch P và ông Tiêu Chấn L. Ông L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà P và ông L đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P đối với ông L.
[6] Về con chung: Bà P xác nhận bà và ông L có 01 (một) con chung tên Tiêu Chấn H, sinh ngày 03/9/2020. Hiện nay, trẻ H do bà P chăm sóc và nuôi dưỡng.
[7] Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
[8] Bà P có yêu cầu được nuôi trẻ H. Ông L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nêu rõ yêu cầu của bà P, nhưng ông L không có văn bản nêu rõ ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà P và ông cũng không đến Tòa án tham dự các buổi hòa giải, phiên tòa xét xử mà vắng mặt không có lý do. Hiện nay trẻ H đang do bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, nhằm bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho trẻ H, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ H cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng.
[9] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên,...”. Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.
[10] Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm nghĩa vụ của cả bà P và ông L. Để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho trẻ H có cuộc sống đảm bảo cũng như phát triển bình thường, ông L phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, bà P không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của bà P, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông L.
3
[11] Về tài sản chung, nợ chung: Bà P xác nhận bà và ông L không có tài sản chung và nợ chung. Ông L vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề tài sản chung và nợ chung giữa ông với bà P nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung giữa bà P và ông L trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
[12] Về án phí: Bà Lý Bạch P chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lý Bạch P đối với ông Tiêu Chấn L.
- Bà Lý Bạch P được ly hôn với ông Tiêu Chấn L.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 125 do Uỷ ban nhân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/8/2020 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao trẻ Tiêu Chấn H, sinh này 03/9/2020 (giới tính: nam) cho bà Lý Bạch P trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Tiêu Chấn L.
Ông L có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
- Về án phí: Bà Lý Bạch P chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà P đã nộp theo biên lai thu số 0033348 ngày 08/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà P, ông L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Duy Linh |
2000013 385208
5
Bản án số 652/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 652/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn
