Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 652/2024/DS-PT

Ngày: 20 - 8 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Ông Trần Ngọc Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Lê Tấn Cường, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ ngày 13/8/2024 đến ngày 20/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 270/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa các bên đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị K, sinh năm 1938 (vắng mặt).

Địa chỉ: B đường G, Tổ F, ấp R, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh B, sinh năm 1997 (có mặt).

Địa chỉ: Số C N, Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Giấy ủy quyền số công chứng 020306 ngày 21/10/2023 của Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1956 (có mặt).

Địa chỉ: C T, ấp R, xã T, huyện C Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: G Tỉnh lộ 8, Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh P, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C (theo Giấy ủy quyền số 8537/UQ-UBND ngày 08/8/2023 của Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).

2/ Ông Nguyễn Trung T1, sinh năm 1997 (vắng mặt);

Địa chỉ: tổ 1, ấp R, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Bà Trịnh Thị K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trịnh Thị K có ông Đỗ Thanh B là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Nguyên trước đây, bà Trịnh Thị K được cha mẹ chia cho một số ruộng đất, tọa lạc tại ấp R, xã T Thượng và đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 574 QSDD/04/QĐĐG, cấp ngày 24/02/2001, gồm 03 thửa (563, 564, 627 Tài liệu 02/CT), với tổng diện tích là 3.921m².

Trong đó thửa số 627, tờ bản đồ 13, có diện tích 1.146m². Thời hạn sử dụng đến năm 2015. Vị trí, hiện trạng các thửa đất trên theo GCNQSDĐ (Theo bản đồ, tài liệu 02/CT), của bà K và thực tế như sau: Thửa 627 không nằm liền kề với 02 thửa 563, 564 mà nó nằm liền kể với thửa đất số 626 của ông Nguyễn Minh T (sau đây được viết tắt là ông T) cũng đã được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất này), và thửa 626 thì liền kề với 02 thửa 563, 564 của bà K.

Phần đất tranh chấp thửa 627 này là nằm trong phần đất có nguồn gốc của ông bà nội bà K là Trịnh Văn Ấ, Lê Thị V tạo lập và để lại cho con cháu. Sau khi ông bà nội mất thì bác là Trịnh Văn H tiếp tục quản lý. Thời điểm đó bác Trịnh Văn H và thân tộc cùng thống nhất sẽ chia cho bà K một phần, và bà K có trách nhiệm là cúng cơm (giỗ) cho bác Hiện, nếu bác qua đời.

Sau khi bác Hiện mất, năm 1982, bà K mới chính thức nhận phần đất này. Đến năm 2001 bà K đã được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ đối với 3 thửa đất.

Về quá trình sử dụng thửa đất 627, bà K đã sử dụng ổn định từ sau năm 1975 đến 1999, và giao lại cho vợ chồng con gái bà K là Trịnh Thị Thu C và Nguyễn Văn T2 quản lý, sử dụng, canh tác để tạo thêm sinh kế, thu nhập cho gia đình. Con rể bà K (T2) cũng đã trồng cây ăn trái như: sầu riêng, chôm chôm, mít... trên đất này. Kế bên thì ông T cũng đã trồng cây ăn trái trên phần đất (626) của ông. Tuy nhiên, tại thời điểm đó chưa cắm ranh, phân ranh giới đất rõ ràng, đất của ai thì người nấy biết mà thôi.

Vào năm 2001 thì con rể bà K (T2) bị tai nạn qua đời, con gái bà K (C) thì một thân, một mình và sức khỏe yếu kém nên không đủ khả năng để tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất này nữa, nên đã trả lại cho bà K. Mà bản thân bà K cũng đã tuổi già, sức yếu cũng không thể tự thân chăm sóc vườn cây được, nên bà K cũng đã thuê người thay bà K quản lý, chăm sóc vườn thêm một thời gian. Sau đó thì để vậy, không ai quản lý, chăm sóc nữa. Sau này thì bà K được biết ông T đã tự ý chặt phá cây ăn trái của con rể bà K đã trồng trước đấy, để trồng thay các cây khác và rào luôn cả phần đất của ông (thửa 626) và đất của bà K (thửa 627) luôn. Bà K đã gặp ông T để hỏi về việc rào chắn này, thì ông T cho biết là đất này là đất của ông, nên ông rào lại. Cũng lúc này gia đình xem lại GCNQSDĐ của bà K thì thấy đã hết thời hạn sử dụng đất, nên vào tháng 01/2017 bà K đến Ủy ban nhân dân xã T để làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ. Lúc này bà K mới được Ủy ban xã cho biết là thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho ông T rồi, nên không thể làm thủ tục cấp đổi cho bà K đối với thửa đất này được.

Qua tìm hiểu và sao lục thì được biết ông T đã được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 27505.10.000.077, cấp ngày 09/3/2010, nay thuộc thửa số 921 (chỉ một thửa độc lập), tờ bản đồ 33 (theo bản đồ KTS), thì có diện tích 1.156,7m², mục đích sử dụng là “Đất trồng cây lâu năm”.

Như vậy chỉ có một thửa đất trên thực tế, nhưng nó lại được cấp cho 02 người, và vẫn tồn tại trên 02 GCNQSDĐ khác nhau (01 được cấp năm 2001, 01 được cấp năm 2010). Và bà K cũng không hiểu bằng cách nào mà ông T lại làm được thủ tục để xin hợp thức hóa thửa đất này và được cấp GCNQSDĐ mới, trong khi thửa đất này vẫn còn tồn tại trên GCNQSDĐ của bà K, và vẫn còn hiệu lực.

Thấy vụ việc có dấu hiệu bất thường, nhưng giữa bà K và ông T là chỗ bà con dòng họ, nên sau đó bà K có gặp ông T để tìm hiểu vụ việc, và yêu cầu ông trả lại phần đất đó lại cho bà, nhưng ông không đồng ý. Lúc thì ông bảo là được hưởng, được trao đổi đất; lúc thì ông nói là ông mua. Nhận thấy việc thương lượng trên tinh thần bà con dòng họ, chòm xóm láng giềng không có kết quả. Nên vào tháng 03/2018 bà K làm đơn đến ấp và UBND xã T Thượng để nhờ giải quyết vụ việc. Tuy nhiên việc hòa giải cũng không thành. Vì vậy, bà K làm đơn khởi kiện với các yêu cầu cụ thể như sau:

Yêu cầu phía ông T trả lại cho bà K phần đất có diện tích 1.146m² thuộc thửa đất số 627 tờ bản đồ số 13 toạ lạc tại ấp R, xã T, huyện C, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 574 QSDD/04/QĐĐG do UBND huyện C đã cấp cho bà Trịnh Thị K ngày 24/02/2001 (gồm 03 thửa 563, 564, 627-Tài liệu 02/CT).

Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số bìa BA 747943, số CH 27505.10.000.077 do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Minh Trung C1 ngày 09/03/2010, (có số thửa số 921, tờ bản đồ số 33, diện tích 1156,7m²).

Nguyên đơn thống nhất với kết quả thẩm định giá tài sản theo chứng thư thẩm định giá ngày 22/10/2019. Tổng giá trị tài sản là 983.608.000đồng. Không yêu cầu định giá lại.

Theo đơn và lời khai của phía bị đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:

Phần đất trên là do ông thuê của vợ chồng ông Trịnh Văn D và bà Phạm Thị T3 từ năm 1993 đến năm 1996, ông D, bà T3 bán toàn bộ thửa đất cho ông. Việc mua bán bằng miệng không có giấy tờ, ông đã giao đủ tiền, giá tiền khoảng 2, 3 chỉ vàng (lâu quá ông không nhớ rõ).

Mua xong năm 1996, ông lên mương, đến năm 1997 trồng cây ăn trái gồm có chôm chôm và sầu riêng. Đến năm 2010, ông được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCN là CH 27505.10.000.077, cấp ngày 09/3/2010, thửa đất số 921, tờ bản đồ 33.

Đến năm 2015, vợ ông bị bệnh tai biến nên ông lo chăm sóc vợ nên không chăm sóc cây trái nữa. Đến khi vợ ông mất khoảng năm 2019 thì ông mới xuống phần đất trên thuê người làm đất, rào hàng rào và tiếp tục canh tác cho đến nay.

Về nguồn gốc đất là do ông cố Trịnh Văn N để lại cho ông nội ông là Trịnh Văn Ấ. Sau đó ông nội để lại phần đất trên cho hai người bác của tôi là Trịnh Văn N1 và Trịnh Văn H, khoảng hơn 02 ha. Sau khi 2 bác của ông là Trịnh Văn N1 và Trịnh Văn H mất không có người thừa kế thì phần đất trên được 3 người cô ruột trong gia đình đứng ra chia vào năm 1982 là bà Trịnh Thị T4, bà Trịnh Thị H1, bà Trịnh Thị S. Ba người cô thống nhất lấy phần ruộng trên chia làm bốn phần cho bốn lễ giỗ. Giao cho ông Trịnh Văn S1, cư ngụ tổ 06 ấp R, xã T T5 đứng ra chủ trì cùng với các anh chị em để phân chia. Sau buổi chia có 04 người được nhận phần đất mỗi phần khoảng hơn 50 cao là: Ông Trịnh Văn D con người thứ 7 cúng ông nội, ông Trịnh Văn S2 con người thứ út cúng bà nội, bà Trịnh Thị T6 con người thứ út cúng bác tư, bà Trịnh Thị K con người thứ 10 cúng bác năm.

Năm 1996, ông Trịnh Văn D đã chuyển nhượng quyền canh tác phần đất được chia cho ông là Nguyễn Minh T, từ năm 1996 đến nay ông đã lập vườn ở phần đất trên được 24 năm. Ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà K. Đề nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các nội dung khác ông giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại các phiên hòa giải trước đây. Bị đơn thống nhất với kết quả thẩm định giá tài sản theo chứng thư thẩm định giá ngày 22/10/2019. Tổng giá trị tài sản là 983.608.000đồng. Không yêu cầu định giá lại.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan UBND huyện C có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Liên quan đến vụ án tranh chấp nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết vụ án nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung T1 có Đơn xin vắng mặt.

Bản tự khai ngày 12/3/2020 của ông Trịnh Văn S1 có nội dung trình bày như sau:

Phần thứ nhứt: Nguồn gốc đất, đất này do ông cố tên Trịnh Văn N2 chia lại cho ông nội là Trịnh Văn Á có diện tích khoản 2ha hơn. Ông nội có 9 người con được lớn lên và trưởng thành có tên dưới đây (Thứ kêu do cha mẹ sanh): (1) Bà Trịnh Thị D1, thứ Ba; (2) Ông Trịnh Văn N1, thứ Tư; (3) Ông Trịnh Văn H, thứ Năm; (4) Bà Trịnh Thị T4, thứ Sáu; (5) Ông Trịnh Văn T7, thứ Bảy; (6) Bà Trịnh Thị H1, thứ Chín; (7) Ông Trịnh Văn P1, thứ Mười; (8) Bà Trịnh Thị S, thứ Út; (9) Ông Trịnh Văn G, thứ Út. Có 7 người con thừa hưởng ruộng của ông N3. Bác T8 và Bác Năm Trịnh Văn N1 và Trịnh Văn H thừa hưởng ruộng của ông C2. Hai ông bác này không có vợ con. Ông Bác T8 qua phần ông nghe kể lại tuổi khoản hai mươi mấy (bệnh lao phổi). Bác Năm còn lại canh tác hết. Sau đó cho người con thứ 10 là Trịnh Văn P2 và con thứ Út là Trịnh Văn G canh tác đong lúa cho ông anh ăn hàng năm. Người con thứ Ú là Trịnh Văn G thờ cúng anh là Trịnh Văn N1.

Đến năm 1968, Bác Năm Trịnh Văn H qua phần. Bác Mười là em tên Trịnh Văn P2 thờ cúng đến năm 1979. Số ruộng trên được chia đôi cho hai bên thờ cúng. Đến năm 1980, lúc bấy giờ còn sống chỉ có ba người cô: (1) Cô Sáu Trịnh Thị T4; (2) Cô Chín Trịnh Thị H1; (3) Cô Ú Trịnh Thị S đã bàn bạc cho cô S3 quyết định số ruộng trên không chia làm hai mà chia làm bốn để có phần hương hỏa ông N3 bà N3 và trước đây ai cúng để được phần.

Phần thứ hai: Thành phần được hương hỏa: (1) Trịnh Văn T7 cúng cha nay giao lại cho con là ông Trịnh Văn D con cúng ông nội; (2) Ông Trịnh Văn G cúng mẹ nay giao lại cho ông Trịnh Văn S2 con cúng bà nội; (3) Ông Trịnh Văn G cúng anh Trịnh Văn N1 nay giao lại cho con Trịnh Văn T9 “tham gia cách mạng” bí danh Nguyễn Minh T cúng Bác T8; (4) Ông Trịnh Văn P2 cúng anh Trịnh Văn Hiện N4 giao lại cho con Trịnh Thị K cúng bác N5. Số ruộng trên chia làm bốn, mỗi phần tương đương 50 cao có hơn. Đến thời điểm cao điểm của HTX năm 1984, bình quân đầu người theo m², không được xâm canh, người dân ở đâu làm ruộng nơi đó. Bà Trịnh Thị K có 60 cao ở ấp T. Ông D có 50 cao ở ấp R. Hai bên tạm thời đổi nhau để canh tác cho hợp lệ. “Hợp tác xã bị tan rã” đến khoảng năm 1989 hai bên ông D và bà K trao trả lại cho nhau, của ai nấy canh tác đến năm 1994. Ông Trịnh Văn D cho ông T mướn miếng ruộng đó, ông T làm đến năm 1996 ông D bán luôn cho ông T. Năm 1997, ông T lên mương trồng cây lập vườn. Bà K cũng canh tác ruộng kế bên đến năm 2000 bà giao cho con rể thứ hai của bà tên Nguyễn Văn T2 lên mương lập vườn kế bên, đến năm 2001 rể bà bị tai nạn giao thông chết. Bà K giữ gìn vườn cây cho đến nay. Tôi Trịnh Văn S1 đã viết bản tự khai trên đây bằng sự thật, mong quý Tòa xem xét giải quyết cho thỏa đáng đôi bên.

Bà Phạm Thị T10 có đơn đề ngày 28/11/2018 trình bày:

Bà xác nhận về việc chồng bà là ông Trịnh Văn D trước đây được thừa hưởng thửa đất của gia tộc tại địa chỉ xã T, huyện C, Tp ., diện tích đất là 1156,7 m² (Nay được xác định là thửa đất 291, tờ bản đồ số 33) để làm lễ giỗ cho Ông N3. Đến năm 1996 chồng bà có chuyển nhượng quyền canh tác mảnh đất trên cho ông Nguyễn Minh T. Bà xin cam đoan những lời nói của bà là đúng sự thật nếu có gian dối bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 2630/2023/DSST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1/ Xác định thửa đất 627 tờ bản đồ số 13 (nay là thửa số 921, tờ bản đồ số 33) toạ lạc tại ấp R, xã T, huyện C có diện tích 1156,7m² thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Minh T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số bìa BA 747943, số vào sổ cấp GCN: CH 27505.10.000.077 do UBND huyện C cấp ngày 09/3/2010.

Không công nhận quyền sử dụng đất của bà Trịnh Thị K đối với thửa đất 627 tờ bản đồ số 13 (nay là thửa số 921, tờ bản đồ số 33) toạ lạc tại ấp R, xã T, huyện C có diện tích 1146m² được ghi nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa S 092142, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 574/QSDĐ/04/QHDG do UBND huyện C cấp cho bà Trịnh Thị K ngày 24/02/2001.

2/ Không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trịnh Thị K gồm:

Yêu cầu ông Nguyễn Văn T11 trả lại cho bà Trịnh Thị K phần đất có diện tích 1.146m² thuộc thửa đất số 627 tờ bản đồ số 13 (nay thuộc thửa số 921, tờ bản đồ số 33, diện tích 1156,7m²) toạ lạc tại ấp R, xã T, huyện C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa S 092142, số vào sổ cấp GCN là 574/QSDĐ/04/QHDG do UBND huyện C cấp cho bà Trịnh Thị K ngày 24/02/2001.

Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số bìa BA 747943, số vào sổ cấp GCN CH 27505.10.000.077 của UBND huyện C cấp ngày 09/03/2010 cho ông Nguyễn Minh T.

3/ Kiến nghị UBND huyện Củ Chi thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa S 092142, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 574/QSDĐ/04/QHDG do UBND huyện C cấp cho bà Trịnh Thị K ngày 24/02/2001 để điều chỉnh nội dung biến động về việc không công nhận quyền sử dụng đất cho bà Trịnh Thị K đối với thửa đất 627 tờ bản đồ số 13 (nay là thửa số 921, tờ bản đồ số 33) toạ lạc tại ấp R, xã T, huyện C. Đồng thời kiến nghị UBND huyện C lập lại hồ sơ lưu trữ cho việc đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05/01/2024, bà Trịnh Thị K làm đơn kháng cáo, nêu lý do:

Bản án sơ thẩm không thỏa đáng gây thiệt thòi quyền lợi của bà, xin Tòa án cấp phúc thẩm xử lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Phía nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Phía bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa như nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng đã được trình bày và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa. Về nội dung đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của phía nguyên đơn làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất đang quản lý sử dụng cho nguyên đơn có diện tích 1.146m², thuộc thửa đất số 627, tờ bản đồ số 13 tọa lạc xã T, huyện C.

Căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 25/8/2023 của Công ty TNHH MTV T12, phần đất này có diện tích thực tế là 1067,2m² thuộc thửa đất số 921-1 (theo tài liệu bản đồ 2004) tương ứng với thửa đất số 627, tờ bản đồ số 13 (tài liệu đo CT-02), tương ứng với thửa 431-1. tờ bản đồ số 4 (tài liệu bản đồ 299/TTg).

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số cấp GCN là 574 QSDD/04/QĐĐG do UBND huyện C cấp ngày 24/2/2001, phần đất tranh chấp này (thửa đất số 627, tờ bản đồ số 13) có diện tích 1146m² được cấp cho chủ sử dụng đất là bà Trịnh Thị K.

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào số cấp GCN CH 27505.10.000.077 do UBND huyện C cấp ngày 09/3/2010 cấp cho ông Nguyễn Minh T thì phần đất tranh chấp mang số thửa 921, tờ bản đồ số 33 có diện tích 1156,7m².

Theo Chỉ thị 299/TTg ngày 11/10/1980 của Phủ Thủ tướng quy định việc tiến hành công tác đo đạc, xây dựng bản đồ phân loại đất, phân hạng đất canh tác và đăng ký thống kê sử dụng ruộng đất trên toàn lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo từng đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh và cấp tương đương) trong từng cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng đất. Theo Chỉ thị này, thời gian hoàn thành công việc tại Thành phố Hồ Chí Minh là cuối năm 1983.

Theo Chỉ thị 02/CT-UB ngày 18/01/1992 của UBND Thành phố H, quy định về việc điều tra đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung: (...)Những bộ tài liệu địa chính của đợt điều tra theo Chỉ thị 299/TTg (1981- 1985) hiện nay không đáp ứng được yêu cầu quản lý chính xác trong tình hình mới và lâu dài về sau vì đất đai luôn biến động mà bản đồ, sổ sách không cập nhật kịp. Ủy ban nhân dân thành phố C4 cho tổ chức cuộc điều tra đo đạc chính xác, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong phạm vi toàn thành phố từ năm 1992 trở đi.” (....)

Theo Công văn số 1295/UBND ngày 06/7/2020 của UBND xã T, huyện C thì: “... Sau khi tra cứu hồ sơ lưu trữ của Ủy ban nhân dân xã T Thượng tìm thấy tài liệu bản đồ 299/TTg thuộc thửa đất số 431, tờ bản đồ 04, loại đất sử dụng: mùa, phần kê khai do bà Trịnh Thị Kiểm kê K1 và tài liệu bản đồ 02/CT-UB thuộc thửa đất số 627, tờ bản đồ 13, mục đích sử dụng: L, thông tin kê khai không có cá nhân hoặc tổ chức nào kê khai (đính kèm tài liệu bản đồ)...”. Xác định bà Trịnh Thị K có đăng ký sử dụng đất theo Chỉ thị 299/TTg, không có đăng ký theo Chỉ thị 02/CT-UB.

Căn cứ Biên bản xác minh về việc đăng ký đất đai theo Chỉ thị 02/CT-UB do Tòa án nhân dân huyện Củ Chi lập ngày 25/8/2023 khi kiểm tra Sổ bộ đăng ký đất đai theo Chỉ thị 02/CT-UB hiện đang lưu giữ tại UBND xã T, huyện C thể hiện nội dung: “Bà Trịnh Thị K có đăng ký đất đai đối với hai thửa đất số 563, 564 tờ bản đồ số 13 (tài liệu bản đồ 02/CT-UB) thể hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 199/QSDĐ ngày 30/8/1995 (được cấp đổi thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 574/QSDĐ/04/QHDG ngày 24/02/2001). Cung cấp kèm theo bản photo trang đăng ký đất đai số 107 có trong Sổ bộ đăng ký đất đai theo Chỉ thị 02/CT-UB).

Xác định bà Trịnh Thị K khi đăng ký đất đai theo Chỉ thị 02/CT-UB, chỉ đăng ký đối với hai thửa 563, 564 tờ bản đồ số 13 (tài liệu bản đồ 02/CT-UB) thể hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 199/QSDĐ ngày 30/8/1995 là thửa 429. Bà Trịnh Thị K không có đăng ký đối với thửa 627 tờ bản đồ số 13 (tài liệu bản đồ 02/CT-UB) thể hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 199/QSDĐ ngày 30/8/1995 là thửa 431.

Thế nhưng, UBND huyện C đã cấp luôn quyền sử dụng đất cho bà Trịnh Thị K đối với thửa đất 627 là chưa đúng quy định pháp luật.

[2.2] Bà K có nhiều lời khai mâu thuẫn như bà sử dụng đất từ năm 1975 nhưng lại được chia đất vào năm 1982.

Vào năm 1999, bà K khai giao đất trên lại cho vợ chồng con gái bà K là Trịnh Thị Thu C và Nguyễn Văn T2 quản lý, sử dụng, canh tác. Con rể bà K (T2) đã trồng cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, mít... trên đất này. Năm 2001 con rể bà bị tai nạn qua đời, con gái bà đã trả đất lại cho bà K, bà K cũng đã thuê người thay bà K quản lý, chăm sóc vườn thêm một thời gian, sau đó thì để vậy, không ai quản lý, chăm sóc nữa. Sau này thì bà K được biết ông T đã tự ý chặt phá cây ăn trái của con rể bà K đã trồng trước đây, để trồng thay các cây khác và rào luôn cả phần đất của ông (thửa 626) và đất của bà K (thửa 627) luôn.

Tuy nhiên theo Chứng thư thẩm định giá ngày 22/10/2019 thì tại thời điểm định giá năm 2019 các cây trồng trên đất có độ tuổi cây là 23 năm (được trồng khoảng năm 1997, 1998), các Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ với sự có mặt của nguyên đơn và bị đơn, không thể hiện trên đất tranh chấp tồn tại các gốc cây sầu riêng, chôm chôm được trồng trước năm 2001 bị chặt bỏ, không có khu vực đất nào để sử dụng trồng hoa màu như nguyên đơn trình bày.

[2.3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bà K không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh việc sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp từ năm 1975 đến thời điểm tranh chấp đất đai năm 2017, không chứng minh được được việc bà K có thu hoạch hoa màu trái cây để sử dụng trong gia đình, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu của bà K và xác định thửa đất 627 nêu trên thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Minh T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2010 là có căn cứ, hợp pháp.

[2.4] Phía bà K kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, cấp phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận.

[3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên bà Trịnh Thị K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà K là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo luật định.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trịnh Thị K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 37, Điều 227, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng Điều 106, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Áp dụng khoản 5 Điều 9 Luật Đất đai năm 1987; Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 12 Nghị định 30/HĐBT/1989 Hội đồng Bộ trưởng; Áp dụng khoản 1 Điều 2, Điều 36 Luật đất đai năm 1993; Áp dụng khoản 3 Mục II Thông tư số 302/ ngày 28/10/1989 của T13; Áp dụng Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục Địa chính; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Áp dụng Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

1/ Xác định thửa đất 627 tờ bản đồ số 13 (nay là thửa số 921, tờ bản đồ số 33) toạ lạc tại ấp R, xã T, huyện C có diện tích 1156,7m² thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Minh T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số bìa BA 747943, số vào sổ cấp GCN: CH 27505.10.000.077 do UBND huyện C cấp ngày 09/3/2010.

Không công nhận quyền sử dụng đất của bà Trịnh Thị K đối với thửa đất 627 tờ bản đồ số 13 (nay là thửa số 921, tờ bản đồ số 33) toạ lạc tại ấp R, xã T, huyện C có diện tích 1146m² được ghi nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa S 092142, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 574/QSDĐ/04/QHDG do UBND huyện C cấp cho bà Trịnh Thị K ngày 24/02/2001.

2/ Không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trịnh Thị K gồm:

Yêu cầu ông Nguyễn Văn T11 trả lại cho bà Trịnh Thị K phần đất có diện tích 1.146m² thuộc thửa đất số 627 tờ bản đồ số 13 (nay thuộc thửa số 921, tờ bản đồ số 33, diện tích 1156,7m²) toạ lạc tại ấp R, xã T, huyện C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa S 092142, số vào sổ cấp GCN là 574/QSDĐ/04/QHDG do UBND huyện C cấp cho bà Trịnh Thị K ngày 24/02/2001.

Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số bìa BA 747943, số vào sổ cấp GCN CH 27505.10.000.077 của UBND huyện C cấp ngày 09/03/2010 cho ông Nguyễn Minh T.

3/ Kiến nghị UBND huyện Củ Chi thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa S 092142, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 574/QSDĐ/04/QHDG do UBND huyện C cấp cho bà Trịnh Thị K ngày 24/02/2001 để điều chỉnh nội dung biến động về việc không công nhận quyền sử dụng đất cho bà Trịnh Thị K đối với thửa đất 627 tờ bản đồ số 13 (nay là thửa số 921, tờ bản đồ số 33) toạ lạc tại ấp R, xã T, huyện C. Đồng thời kiến nghị UBND huyện C lập lại hồ sơ lưu trữ cho việc đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.

4/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.

5/ Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trịnh Thị K được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.

6/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. HCM.
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tp.HCM.
  • - Cục Thi hành án dân sự Tp. HCM.
  • - Các đương sự (Để thi hành).
  • - Lưu văn phòng; hồ sơ vụ án, TPQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 652/2024/DS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 652/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger