Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 651/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 29/7/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ông Vũ Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Tiến Thanh
Ông Nguyễn Hải Phùng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa Bà Trần Phương Ly

Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thanh Thuý - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa mở phiên tòa để xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 321/2024/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024; Về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐXX-ST ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thái H, sinh năm 2001

HKTT: Số E ngách A H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. (có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988

HKTT và trú tại: Số E ngách A H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy H1 – Luật sư Công ty L – Đoàn luật sư Thành phố H. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thái H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại U, quận Đ, thành phố Hà Nội ngày 14/6/2022, cả hai đêu kết hôn lân đâu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là sau khi kết hôn và chung sống chị H mới biết anh T có sử dụng ma tuý và rượu bia nên anh T thường xuyên trong tình trạng không tỉnh táo, dẫn đến bỏ bê gia đình, không quan tâm đến con cái, đỉnh điểm là vào ngày 03/4/2023 anh T dùng ma tuý sau đó không tỉnh táo cới hết quân áo và lao vào đánh chị H, sự việc có sự chứng kiến của bố mẹ anh T, chị đã nộp cho Toà án hình ảnh chụp lại từ camera thời điểm xảy ra sự việc. Tháng 11 năm 2023, chị H đã bỏ ra ngoài sống riêng, sau đó anh T thường xuyên nhắn tin đe doạ chửi bới và nói với chị H làm thủ tục ly hôn để giải thoát cho anh T, sau đó đến tháng 01 năm 2024 chị H và anh T thống nhất làm thủ tục thuận tình ly hôn tại Toà án, nhưng khi hai vợ chông đến Toà án làm thủ tục thì anh T lại không đồng ý, nhận thấy vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn không thể giải quyết được nên chị H tiếp tục nộp đơn ly hôn đơn phương tại Toà án nhân dân quận Đống Đa. Theo chị H, bản thân anh chị không còn chung sống đã lâu, khi chung sống cũng không hạnh phúc, việc anh T không đồng ý ly hôn với chị là vì anh T không muốn cho chị nuôi con chứ không xuất phát từ tình cảm vợ chồng và không có ý thức hàn gắn, đoàn tụ. Việc hai vợ chồng mâu thuẫn và chung sống không hạnh phúc cả hai bên gia đình đều biết, đã hoà giải và hàn gắn tình cảm cho vợ chồng anh chị nhưng không có kết quả. Nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hành phúc nên chị H kiên quyết đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

  • - Về con chung: Chị H xác nhận anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Tùng A sinh ngày 02/11/2022. Ly hôn chị H xin được nuôi cháu Nguyễn Đỗ Tùng A vì cháu hiện nay mới được hơn 20 tháng tuổi còn quá nhỏ nên cần sự chăm sóc và nuôi dưỡng của mẹ, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị H xác nhận anh chị không có, ngoài ra chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề gì khác.
  • - Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh và chị H có kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại U, quận Đ, thành phố Hà Nội ngày 14/06/2022. Anh xác nhận sau khi vợ chồng kết hôn và chung sống thì anh chị có xảy ra mâu thuẫn cãi vã xô xát nhỏ nhưng không đến mức nghiêm trọng, anh có sử dụng rượu bia say xỉn nhưng không mất kiểm soát. Nay chị H xin ly hôn với anh thì quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị H, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để con cái có đây đủ sự chăm sóc của bố mẹ.

  • - Về con chung: Anh T xác nhận anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Tùng A sinh ngày 02/11/2022. Ban đâu anh T có ý kiến là nếu anh chị phải ly hôn anh đồng ý để chị H nuôi con đến khi đủ 36 tháng tuổi, sau đó anh thay đổi ý kiến là xin được nuôi con chung vì chị H hiện nay không có công việc ổn định, không có thu nhập tốt, nếu anh được nuôi cháu Tùng A thì anh không yêu câu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh T xác nhận anh chị không có, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên toà:

Chị H trình bày mâu thuẫn như đã trình bày trong các buổi làm việc và hoà giải tại Toà án, chị cho biết mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, không tìm được tiếng nói chung và đã được hai gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện anh chị đã ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh T. Ly hôn chị H xin nuôi 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Tùng A sinh ngày 02/11/2022 và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng. Về tài sản và nhà ở chung, vay nợ chung, chị xác nhận không có và không yêu cầu gì khác.

Anh T trình bày về tình cảm vợ chồng mặc dù có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức phải ly hôn, nguyên nhân mâu thuẫn anh cho rằng do chị H còn trẻ bị tác động từ phía gia đình mẹ đẻ. Mặc dù hai vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 01/2024 nhưng anh muốn chị Hòa nghĩ 1 để vợ chồng đoàn tụ. Nếu phải ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu câu chị H cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp chị H được quyền nuôi con thì anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng. Về tài sản và nhà ở chung, anh T xác nhận không có, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định tại các Điêu 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định, thủ tục tại phiên tòa, đảm bảo quyên và nghĩa vụ của đương sự.
  • - Về nội dung: Xét mâu thuẫn của chị H, anh T đã kéo dài trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử:
    • - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thái H đối với anh Nguyễn Văn T.
    • - Về con chung: Giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho chị H 5.000.000 đồng/tháng.
    • - Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị H, anh T xác nhận không có nên không xét.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn trình bày bản luận cứ:

Chị Đỗ Thị H2 và anh Nguyễn Văn T kết hôn và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do anh T nghiện chất kích thích, thường xuyên bỏ bê và không quan tâm tới gia đình, nay anh chị đã sống ly thân, chị H2 không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên đê nghị Toà án chấp nhận yêu câu của chị H2, cho chị H2 được ly hôn với anh T; Vê con chung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điêu 81 Luật HNGĐ năm 2014 giao con chung là cháu Nguyễn Đỗ Tùng A sinh ngày 02/11/2022 cho chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng do cháu còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, buộc anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho chị H2 5.000.000 đồng/tháng; Vê tài sản chung, vay nợ chung: anh chị không có nên không yêu cầu giải quyết;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền:

  • - Vê quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Đỗ Thái H xin ly hôn đối với anh Nguyễn Văn T là quan hệ tranh chấp về Hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điêu 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại quận Đ, thành phố Hà Nội, căn cứ điểm a, khoản 1, Điêu 35; Điểm a khoản 1 Điêu 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

[2] Về nội dung:

  • * Về quan hệ hôn nhân: Nhận thấy, chị Đỗ Thái H và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường U, quận Đ, Hà Nội ngày 14/6/2023, đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, hiện vợ chồng đã ly thân nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng chị H, anh T nhưng không có kết quả, xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh chị, lấy ý kiến của ông Đỗ Văn T1 (bố đẻ chị Đỗ Thái H). Tại phiên toà, chị H vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh T, anh T không đồng ý ly hôn. Xét thấy rằng, hiện vợ chồng anh chị đã ly thân nhau từ tháng 01/2024, mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm đến ai, biên bản xác minh tại Công an phường Ô, cán bộ cảnh sát khu vực xác nhận tại địa phương anh chị có mâu thuẫn, ngoài ra bố đẻ chị H - ông Đỗ Văn T1 trình bày ý kiến đê nghị Toà án cho chị H được ly hôn với anh T vì nhận thấy anh chị không thể tiếp tục chung sống được. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh T là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điêu 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
  • * Về con chung: Chị Đỗ Thị H2, anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Tùng A sinh ngày 02/11/2022. Xét thấy, cả chị H2, anh T đêu có nguyện vọng nuôi con chung sau ly hôn, cháu Tùng A chưa đủ 36 tháng tuổi nên theo quy định tại Khoản 3 Điêu 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, sau ly hôn cần giao cháu Tùng A cho chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng; chị H2 yêu câu anh T cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng, anh T đồng ý. Anh T được quyên đi lại thăm nom chăm sóc giao dục con chung không ai được cản trở.
  • * Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Chị H2, anh T xác nhận không có, không yêu cầu nên không xét.

[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con:

Chị H2 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật, anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

[4] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyên kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tại phiên tòa:

phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điêu 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điêu 147; Điêu 271; Điêu 273; Điêu 278; Điêu 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  • - Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Điểm a, khoản 5, Điêu 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đỗ Thái H đối với anh Nguyễn Văn T. Chị Đỗ Thái H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Chị Đỗ Thái H và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Tùng A sinh ngày 02/11/2022. Ly hôn giao cháu Nguyễn Đỗ Tùng A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; Anh Nguyễn Văn T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị H3 5.000.000 ( năm triệu) đồng/01 tháng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Nguyễn Văn T được quyên đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Đỗ Thái H, anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  4. Vê các vấn đề khác: Chị Đỗ Thái H, anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên không xét.
  5. Về án phí: Chị Đỗ Thái H phải chịu 300.000đông án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiên 300.000đồng tiên tạm ứng án chị H đã nộp theo biên lai số 00064346 ngày 23/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Đỗ Thái H, anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Nơi cấp ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 651/2024/HNGĐ - ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 651/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger