|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 651/2024/HS-PT Ngày 12 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An
Ông Nguyễn Văn Khương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trung
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.
Ngày 12/8/2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 285/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thanh N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thanh N, sinh ngày 23/12/1988; Nơi thường trú: ấp B, xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: số A, đường C, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Nhân viên bảo vệ; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Thanh S, sinh năm 1959 và bà Mã Thị Thu V, sinh năm 1962; Anh em ruột: 04 người, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1996; Vợ Ngô Yến H (đã ly hôn); Con Trần Ngọc Trâm A; sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Mã Thị Thu V, sinh năm 1962.
Nơi cư trú: số A, đường C, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Thanh N: Luật sư Lê Ngô Phương T – Đoàn luật sư Thành phố H. (Có văn bản bào chữa cho bị cáo và xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/8/2022, Trần Thanh N và ông Đặng Thanh H1 (Bé) là nhân viên bảo vệ làm việc tại nhà sách F, ở số B đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. N và ông H1 đang sắp xếp xe máy của khách hàng đậu phía trước nhà sách thì ông Lâm Ánh Chiêu V1 đã có uống rượu trong người đến tìm N để hỏi chuyện cách vài ngày trước N và em gái ông V1 xảy ra mâu thuẫn cự cải nhau. Ông V1 đến nhà sách kêu N ra nói chuyện; N đi ra đứng phía trước nhà sách đối diện với ông V1 cặp mé lộ đường N, trên tay N cầm 01 ca nhựa dùng để đựng nước uống thường ngày. Ông V1 nói chuyện chửi thề xúc phạm và đe dọa đánh N. N bực tức dùng ca nhựa đánh trúng vào mặt ông V1 01 cái, làm ca nhựa văng ra đường; N và ông V1 dùng tay đánh nhau qua lại. N bỏ chạy đến chiếc xe mô tô của N đậu gần đó lấy 01 cây dao (loại dao rọc giấy) chạy đến đâm ông V1, ông V1 lùi về phía sau dùng tay trái đưa lên đỡ trúng vào cẳng tay một nhát. Ông V1 té ngã ngữa xuống đường, N xông đến dùng dao đâm liên tiếp từ trên xuống trúng vào ngực trái ông V1 một nhát thì được anh Thái Văn Đ và Đặng Thanh H1 can ngăn, N cầm dao lên xe mô tô chạy về đến đường L ném bỏ cây dao vào bãi cỏ phía trước quán N1. Ông V1 được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh K cấp cứu đến ngày 23/8/2022 được xuất viện. Đến ngày 14/6/2023, Trần Thanh N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K khởi tố và cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
* Tại bản kết luận giám định thương tích số 276/KLTTCT-PY ngày 24/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận Lâm Ánh Chiêu V1, sinh năm 1970 như sau:
- Các kết quả chính:
- - Kết quả khám giám định:
- + Vết thương vùng ngực trái, gây tràn máu - tràn khí màng phổi trái đã được phẫu thuật dẫn lưu khoang màng phổi.
- + Sẹo phần mềm vùng cẳng tay trái.
- - Kết quả cận lâm sàng:
- + Xquang cẳng tay trái thẳng, nghiên: Không thấy hình ảnh bất thường.
- + Kết quả CT – Ccan ngực tái tạo 3D: Không thấy hình ảnh bất thường.
- Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22 ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lâm Ánh Chiêu V1 tại thời điểm giám định là 10%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Vật gây thương tích:
- - Thương tích vùng ngực trái do vật sắc nhọn gây nên.
- - Thương tích cẳng tay trái do vật sắc gây nên.
2
* Tại bản kết luận giám định về kỹ thuật số - điện tử số 818/KL-KTHS ngày 21/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận đoạn camera Video clip được trích xuất tại sách FaHaSa như sau: Không phát hiện thấy dấu cắt ghép trong tập tin video gửi giám định.
* Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 355 ngày 14/9/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực T, đối với Trần Thanh N như sau:
- - Về y học: Trước, trong khi phạm tội (ngày 18/8/2022) và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0 - ICD10).
- - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm phạm tội (ngày 18/8/2022) và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
* Vật chứng vụ án:
- - 01 con dao không thu hồi được.
- - 01 đoạn Video camera số 8 trước nhà sách F trong hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự:
Ông Lâm Ánh Chiêu V1 yêu cầu Trần Thanh N bồi thường toàn bộ số tiền thuốc men trong lúc điều trị bệnh số tiền 18.000.000 đồng; N đã bồi thường xong, ông V1 làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số: 94/CT-VKSTKG-P2 ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố các bị cáo Trần Thanh N, về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tuyên xử:
- Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh N phạm tội “Giết người”
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh N 07 (B) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/3/2024, bị cáo Trần Thanh N kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt vì lý do hoàn cảnh bị cáo đã ly hôn, phải nuôi con nhỏ, cha mẹ già yếu, bản thân bị hạn chế về nhận thức.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát trình bày:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo vắng mặt do đã đi khỏi nơi cư trú theo văn bản xác minh của Công an địa phương, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
Về nội dung kháng cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận tội danh, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, xét bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, bị cáo đã có hành vi dùng hung khí đâm vào cùng trọng yếu của người bị hại, việc bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và đưa ra mức hình phạt phù hợp tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tòa án tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập bị cáo nhưng bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo đã đi khỏi nơi cư trú, không rõ đi đâu theo xác minh của Công an địa phương do đó Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt bị cáo và người đại diện.
Về nội dung kháng cáo:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:
[1] Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/8/2022, ông Lâm Ánh Chiêu V1 đã có uống rượu trong người đi đến tìm Trần Thanh N đang trực bảo vệ tại nhà sách F để hỏi chuyện trước đó, ông V1 chửi thề thô tục xúc phạm và đe dọa đánh N, nên giữa N và ông V1 xảy ra xô xát. N lấy 01 cây dao (loại dao rọc giấy) đâm ông V1 trúng vào cẳng tay trái một nhát và tiếp tục xông đến dùng dao đâm liên tiếp từ trên xuống trúng vào ngực trái ông V1 một nhát thì được can ngăn đưa ông V1 đi cấp cứu kịp thời. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với diễn biến của vụ án, lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Kết luận giám định vết thương, gây tràn máu - tràn khí màng phổi trái, sức khỏe của ông V1 bị tổn thương cơ thể là 10%. Do đó, bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử bị cáo Trần Thanh N về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
4
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Giữa bị cáo và người bị hại không có bất cứ mâu thuẫn gì nhưng do cự cãi trong lúc nói chuyện, bị cáo thể hiện tính chất côn đồ lấy 01 cây dao (loại dao rọc giấy) là hung khí nguy hiểm xông đến dùng dao đâm liên tiếp từ trên xuống trúng vào ngực trái của bị hại là vùng trọng yếu trên cơ thể con người. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi nguy hiểm của mình, muốn tước đoạt mạng sống người bị hại và việc người bị hại không chết là nằm ngoài ý chí chủ quan của bị cáo. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả và xem nhẹ tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần thiết phải xử một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời nhất định mới đảm bảo được tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; bị cáo có bệnh lý hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
[4] Bị cáo phạm tội chưa đạt nên áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để xem xét mức hình phạt cho bị cáo.
Cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và đưa ra mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Do không được chấp nhận kháng cáo, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét và có hiệu lực kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh N giữ nguyên Bản án
5
hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh N phạm tội “Giết người”
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh N 07 (B) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trần Thanh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Trần Thanh N phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
6 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Tuấn Vinh |
Bản án số 651/2024/HS-PT ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 651/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
