Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 651/2024/DS-PT

Ngày: 20-8-2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

và tranh chấp hủy quyết định cá biệt.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên.

Ông Mai Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 372/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hủy quyết định cá biệt”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2024/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2531/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Ông Phan Tấn X, sinh năm 1951 (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Tấn Q, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

Bị đơn:

Ông Võ Hoàng D, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đắc Đ; chức vụ Phó trưởng Phòng, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn, ông Võ Hoàng D

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn, ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L trình bày:

Ông X, bà L tạo lập và được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) số AG 864801, thửa đất số 107, tờ bản đồ số 14, diện tích 126m² ngày 13/01/2006, mục đích sử dụng là đất ở nông thôn. Ông Võ Hoàng D được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 053929 ngày 12/01/2018 đối với thửa đất số 181, tờ bản đồ số 75, diện tích 100,4m².

Giữa thửa 107 và thửa 181 là khoảng đất có chiều ngang 0,6m, dài khoảng 10m là lối đi của gia đình ông X từ trước đến nay. Ông D xây dựng nhà ở trước, khi ông X xây nhà thì ông D lại xây một bức tường gạch cao khoảng 1,8m, chạy theo hướng Bắc – N, chắn trước cửa hông nhà ông X, bà L đã cản trở việc xây dựng nhà của ông X. Việc tranh chấp đã được UBND xã C giải quyết nhưng không thành.

Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu buộc ông D phải tháo dỡ bức tường, trả lại cho gia đình ông X diện tích (0,6m x 10m) theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đ1. Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu phản tố của bị đơn.

Bị đơn, ông Võ Hoàng D trình bày:

Diện tích đất gia đình ông D đang ở có nguồn gốc do bà Phan Thị D1 (bà nội của ông D) mua của ông Phan S (cha của ông X) vào năm 1967, có chiều ngang 6m, chiều dài 20m. Sau khi bán đất cho bà D1 thì ông S còn lại phần đất chiều ngang 6m, chiều dài 20m. Ông S xây dựng nhà chiều ngang 5,4m, chiều dài 19m (do việc mở rộng đường hương lộ khu xưa nên phải xây dựng nhà thụt vào 1m theo chiều dài). Ông S chừa lại phần đất chiều ngang 0,6m x chiều dài 19m để làm hẻm chung (thỏa thuận miệng giữa hai gia đình).

Năm 1970, bà D1 xây dựng nhà có chiều ngang 5,4m x chiều dài 19m và chừa lại phần đất chiều ngang 0,6m x chiều dài 19m để làm hẻm chung (thỏa thuận giữa hai gia đình). Như vậy, phần đất chung này có chiều ngang 1,2m x chiều dài 19m để hai gia đình cùng sử dụng, có thể mở cửa hậu và cửa sổ. Năm 2006, khi địa phương làm thủ tục đo đạc để cấp giấy CNQSDĐ mới thì gia đình ông có đưa cho địa chính xã bản sao giấy mua bán đất năm 1967 nhưng không hiểu sao cán bộ địa chính không đo đạc theo giấy mua bán đất này mà chỉ đo diện tích căn nhà đã xây dựng. Chính quyền địa phương đã không xác minh diện tích đất hẻm chung giữa hai gia đình, mặc dù tại thời điểm đó, hẻm chung này đã tồn tại 36 năm (từ năm 1970 đến năm 2006), hẻm chung có cửa hậu, cửa sổ, mái che mưa, đồng hồ nước, ống thoát mưa của gia đình ông.

Giấy CNQSDĐ cấp cho ông Võ Văn N (cha ông D) không có phần đất chiều ngang 0,6m x chiều dài 19m mà gia đình ông đã chừa ra để làm hẻm đi chung. Do không hiểu biết về luật đất đai, gia đình ông cứ nghĩ là phần đất đã chừa ra để làm hẻm chung thì sẽ không được đưa vào sổ đỏ. Hơn nữa, nếu sau này có tranh chấp gì thì gia đình ông vẫn còn giấy mua bán đất năm 1967 và sổ đỏ cấp cho gia đình ông X cũng như vậy. Tuy nhiên, thực tế, toàn bộ diện tích đất hẻm chung này đã bị ông X hợp thức hóa để cấp giấy CNQSDĐ. Như vậy, việc cấp giấy CNQSDĐ cho ông X là sai nhưng gia đình ông không biết. Hơn nữa, vào thời điểm cấp giấy CNQSDĐ thì gia đình ông X cũng chưa lấn chiếm diện tích đất hẻm chung này nên gia đình ông cũng không có căn cứ gì để khiếu nại.

Năm 2012, gia đình ông xây dựng lại nhà mới, thời điểm này diện tích đất hẻm chung đã nằm trong sổ đỏ của ông X nhưng ông X vẫn khẳng định là hẻm chung giữa hai gia đình. Do đó, gia đình ông được quyền xây dựng cửa hậu, cửa sổ, mái che mưa, đồng hồ nước, ống thoát nước mưa trong hẻm chung này dưới sự giám sát của gia đình ông X.

Vì vậy, ông D không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Đồng thời, có phản tố yêu cầu Tòa án hủy giấy CNQSDĐ ngày 13/10/2006 của UBND huyện T cấp cho ông X. Ông D thống nhất với kết quả đo vẽ ngày 07/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T trình bày tại Văn bản số 1058/UBND-NC ngày 27/4/2023:

Về hồ sơ pháp lý liên quan đến thửa đất hiện nay vợ chồng Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L và ông Võ Hoàng D sử dụng:

Vợ chồng ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ số AG 864801 ngày 13/10/2006, đối với thửa đất số 107, tờ bản đồ số 14, diện tích 126m², mục đích sử dụng là đất ở nông thôn, tại xóm I, thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Ông Võ Hoàng D được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy CNQSDĐ số CI 053929 ngày 12/01/2018, đối với thửa đất số 181, tờ bản đồ số 75, diện tích 100,4m², mục đích sử dụng là đất ở nông thôn, tại xóm I, thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vị trí ông Võ Hoàng D xây dựng có kích thước dài 8,15m, rộng 0,6m, cao khoảng 2m nằm trong thửa đất số 107, tờ bản đồ số 14, diện tích 126m², được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ cho ông X, bà L.

Từ những cơ sở nêu trên, việc ông Phan Tấn X yêu cầu ông Võ Hoàng D chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và tháo dỡ tài sản là có cơ sở pháp lý. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm 19/2024/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, quyết định:

Căn cứ: Khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L: Buộc ông Võ Hoàng D phải tháo gỡ bức tường xây dựng bằng gạch nằm giữa ranh giới hai nhà nguyên đơn với bị đơn, tọa lạc tại thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận, để trả lại diện tích 06m² đất cho ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L. Theo Mảnh chỉnh lý Bản đồ địa chính tờ số 25(239509-3) ngày 07/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện Đ1 kèm theo.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Võ Hoàng D về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 864801, do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 13/10/2006 cho ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/4/2024, ông Võ Hoàng D kháng cáo đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Võ Hoàng D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Theo giấy mua bán năm 1967 thì bà D1 (bà nội bị đơn) mua của ông Phan S đất có chiều ngang 6m nhưng trong giấy CNQSDĐ hiện tại chỉ có 5,4m. Khi ông S bán đất cho bà D1 thì mỗi bên giữ một bản. Nhưng khi địa chính đo đạc để cấp giấy CNQSDĐ thì chiều ngang của gia đình ông X là 6,9m là không đúng. Quá trình đo đạc kê khai cấp giấy CNQSDĐ thì hai bên cũng không ký giáp ranh do có phần đất là hẻm chung. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Nguyên đơn trình bày: Ông nội nguyên đơn (ông S) bán cho bà nội bị đơn là 6 thước. Khi bán đất thì ranh giới giữa hai nhà là đường thẳng chứ không phải có con hẻm đi chung. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Về tố tụng:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của ông Võ Hoàng D làm trong hạn luật định, đúng hình thức.

Về nội dung:

Tại Mảnh chỉnh lý Bản đồ địa chính tờ số 25 (239509-3) ngày 07/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 thể hiện phần diện tích đất các bên tranh chấp là 06m² nằm trong giấy CNQSDĐ đã cấp cho nguyên đơn.

Nguồn gốc diện tích đất của bị đơn là do nhận chuyển nhượng của gia đình nguyên đơn là ngôi nhà tranh. Năm 1970, cụ Phạm Thị D2 xây nhà chiều ngang 5,4m, dài 19m. Đến năm 2006, ông N (cha bị đơn) được cấp giấy CNQSDĐ. Năm 2012, gia đình bị đơn xây dựng lại nhà trên nền nhà cũ. Sau đó, bị đơn được ông Ngọc t cho quyền sử dụng đất và ngày 12/01/2018, thì ông D được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp lại giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có chiều rộng phía trước 5,33m, dài giáp với nhà nguyên đơn 18,15m là đường thẳng.

Như vậy, từ năm 2006 bị đơn đã biết giấy CNQSDĐ của mình có chiều rộng phía trước 5,33m nhưng bị đơn không khiếu nại. Trong quá trình giải quyết vụ án, UBND huyện T là cơ quan cấp giấy CNQSDĐ cho nguyên đơn và bị đơn vào năm 2006 có ý kiến như sau: Việc bị đơn xây dựng bức tường nằm trong diện tích đất đã cấp giấy CNQSDĐ cho nguyên đơn là không đúng.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là đúng pháp luật. Ông Võ Hoàng D kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, bác kháng cáo của ông D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận thụ lý vụ án và giải quyết là đúng pháp luật. Bị đơn, ông Võ Hoàng D kháng cáo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

  1. Hồ sơ vụ án thể hiện: Nguyên đơn được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ ngày 13/01/2006 đối với diện tích 126m², thửa đất số 107, tờ bản đồ số 14. Ông Võ Hoàng D được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/01/2018 đối với diện tích 100,4m², thửa đất số 181, tờ bản đồ số 75.
  2. Các đương sự xác nhận: Năm 1967, cụ Phạm Thị D2 (bà nội ông D) mua một phần đất có căn nhà tranh của ông Phan S (cha ông X). Năm 1970, cụ D2 xây nhà có kích thước chiều ngang 5,4m, chiều dài 19m. Năm 2006, ông Võ Văn N (cha ông D) được cấp giấy CNQSDĐ và sử dụng đến năm 2018 thì tặng cho ông D và ông D được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp lại giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích 100,4m², kích thước (chiều rộng 5,33m, chiều dài 18,15m).
  3. Tại Mảnh chỉnh lý Bản đồ địa chính tờ số 25 (239509-3) ngày 07/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ1, thể hiện: ranh giới giữa thửa 181 và thửa 182 (cũ là thửa 107) theo giấy CNQSDĐ đã cấp cho nguyên đơn, bị đơn là đường thẳng, ký hiệu trên sơ đồ đo đạc là điểm 8-12 là phù hợp với xác nhận của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm là ranh giới giữa 2 thửa đất là đường thẳng (bút lục 129). Tuy nhiên, theo chỉ ranh của bị đơn thì ranh giới giữa 2 thửa đất không phải là đường thẳng, phần diện tích 06m² các bên tranh chấp thuộc giấy CNQSDĐ đã cấp cho nguyên đơn.
  4. Khi nguyên đơn và ông Võ Văn N được cấp giấy CNQSDĐ đất năm 2006 thì các đương sự không khiếu nại hoặc tranh chấp phần diện tích đất được cấp. Năm 2012, ông N xây nhà và đến năm 1018 thì tặng cho bị đơn và bị đơn cũng được cấp giấy CNQSDĐ đúng như diện tích ông N được quyền sử dụng là 100,4m².
  5. Quá trình sử dụng đất, bị đơn không kê khai diện tích đất tranh chấp. Việc cho rằng phần đất này do gia đình bị đơn chừa ra để làm đường đi chung nhưng không có căn cứ chứng minh, cũng không được nguyên đơn thừa nhận. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bức tường do bị đơn xây dựng nằm trong diện tích thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ.
  6. Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn yêu cầu ông D tháo gỡ bức tường xây dựng bằng gạch trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình. Hiện tại, ông D và gia đình đang sử dụng bức tường này. Lẽ ra, khi giải quyết, Tòa án phải đưa những người trong gia đình ông D tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mới đúng; đồng thời, phải xem xét thẩm định tại chỗ để xác định có vật kiến trúc khác ngoài bức tường trên phần đất các đương sự tranh chấp hay không, có vậy, mới bảo đảm giải quyết vụ án một cách triệt để theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại Bản trình bày ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện ngày 30/01/2024 của ông X, bà L có nội dung: “Mục đích của vợ chồng tôi khởi kiện để yêu cầu ông D tháo dỡ bức tường để không ảnh hưởng đến việc sinh hoạt đi lại trên diện tích đất này của gia đình chúng tôi. Ngoài ra, chúng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết gì khác. Vợ chồng chúng tôi cam đoan lời khai này là đúng sự thật, nếu sai, vợ chồng chúng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình và không thắc mắc hay khiếu nại về sau”. Đồng thời, tại Bản trình bày ý kiến về việc kháng cáo của ông Võ Hoàng D, ông X, bà L có ý kiến: Đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo của ông D, buộc ông D trả lại diện tích 6m² để gia đình sử dụng làm đường đi như đã sử dụng từ trước đến khi ông D xây bức tường. Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu gì khác. Như vậy, vi phạm tố tụng nêu trên không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự nên việc hủy bản án vì lý do trên là không cần thiết, gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
  7. Từ những chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là đúng pháp luật. Ông D kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của ông D; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ông D phải chịu chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm, án phí phúc thẩm.
  8. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH/14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Hoàng D.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L: Buộc ông Võ Hoàng D phải tháo gỡ bức tường xây dựng bằng gạch nằm giữa ranh giới hai nhà nguyên đơn với bị đơn, tọa lạc tại thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận, để trả lại diện tích 06m² đất cho ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L. Theo Mảnh chỉnh lý Bản đồ địa chính tờ số 25(239509-3) ngày 07/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện Đ1 kèm theo.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Võ Hoàng D về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 864801, do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 13/10/2006 cho ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L.
  5. Về chi phí tố tụng: Ông Võ Hoàng D phải chịu 3.752.000 đồng. Do ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L đã tạm ứng nên buộc ông Võ Hoàng D phải trả lại cho ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L 3.752.000 (ba triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn) đồng.
  6. Về án phí:
    1. Án phí sơ thẩm: Ông Võ Hoàng D phải chịu 300.000 đồng đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận và 300.000 đồng đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận, tổng cộng ông Võ Hoàng D phải chịu 600.000 đồng. Nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0012186, ngày 21/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, ông Võ Hoàng D còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Ông Phan Tấn X, bà Nguyễn Thị L không phải chịu.
    2. Án phí phúc thẩm: Ông Võ Hoàng D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000226, ngày 04/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận, ông Võ Hoàng D đã nộp đủ.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  8. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP (5), HS (2) (LTTH);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 651/2024/DS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 651/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger