|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 650/2023/KDTM-ST
Ngày: 18 - 8 - 2023
V/v tranh chấp hợp đồng gửi giữ hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Út
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Huỳnh Thu An
- - Bà Nguyễn Đông Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích P - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 220/2020/TLST-KDTM ngày 04 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2023/QĐXXST-KDTM ngày 02 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Công ty TNHH Trang Huy Hoàng Lâm Hà
- Địa chỉ: Thôn Tân Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 11/5/2020). (Có đơn xin vắng mặt).
- - Bị đơn: Công ty CP D
- Địa chỉ: 4 P, Phường C, quận P, Tp.
- Đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Thái H là đại diện theo pháp luật. (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/4/2020 của Công ty TNHH T1 và quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thành T là người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH T1 (Gọi tắt là Công ty T1) và Công ty CP D (Gọi tắt là Công ty D) có ký 4 Hợp đồng mua bán và 4 Hợp đồng kinh tế như sau:
- Hợp đồng kinh tế số KT26-20/TP-THH, ngày 09/01/2020 với nội dung Công ty T1 đồng ý ký gửi cho Công ty D 40.000 kg cà phê R1 loại R2/xô với giá tạm tính tại
thời điểm ký hợp đồng là 32.600 đồng/kg, thành tiền là 1.304.000.000 đồng. Công ty D tạm ứng cho Công ty T1 giá trị tiền hàng theo giá tạm tính ngày ký hợp đồng.
- Hợp đồng kinh tế số KT32-20/TP-THH, ngày 10/01/2020 với nội dung Công ty T1 đồng ý ký gửi cho Công ty D 93.965 kg cà phê R1 loại R2/xô với giá tạm tính tại thời điểm ký hợp đồng là 32.400 đồng/kg, thành tiền là 3.044.466.000 đồng. Công ty D tạm ứng cho Công ty T1 giá trị tiền hàng theo giá tạm tính ngày ký hợp đồng.
- Hợp đồng kinh tế số KT40-20/TP-THH, ngày 15/01/2020 với nội dung Công ty T1 đồng ý ký gửi cho Công ty D 40.000 kg cà phê R1 loại R2/xô với giá tạm tính tại thời điểm ký hợp đồng là 32.100 đồng/kg, thành tiền là 1.284.000.000 đồng. Công ty D tạm ứng cho Công ty T1 giá trị tiền hàng theo giá tạm tính ngày ký hợp đồng.
- Hợp đồng kinh tế số KT49-20/TP-THH, ngày 16/01/2020 với nội dung Công ty T1 đồng ý ký gửi cho Công ty D 41.648 kg cà phê R1 loại R2/xô với giá tạm tính tại thời điểm ký hợp đồng là 32.100 đồng/kg, thành tiền là 1.336.900.800 đồng. Công ty D tạm ứng cho Công ty T1 giá trị tiền hàng theo giá tạm tính ngày ký hợp đồng.
Tổng cộng Công ty T1 ký gửi cho Công ty D 215.613 kg cà phê R1 loại R2/xô với tổng giá tạm tính của 4 Hợp đồng trên tại thời điểm ký hợp đồng là 6.969.366.800 đồng. Công ty D đã tạm ứng cho Công ty T1 giá trị là 4.878.556.760 đồng, số tiền còn lại Công ty D sẽ thanh toán sau khi hai bên chốt giá. Sau khi ký hợp đồng, Công ty T1 đã giao đủ lô hàng cà phê tại kho Đ nhưng đến nay Công ty D vẫn chưa chốt giá, mặc dù Công ty T1 đã nhiều lần gửi công văn yêu cầu.
Tại Điều III của các Hợp đồng kinh tế quy định nếu hai bên không thỏa thuận được giá mua bán thì Công ty T1 có quyền lấy lại lô hàng đã gửi cho Công ty D và đồng ý thanh toán cho Công ty D khoản chiết khấu là 0.8%/tháng trên số tiền Công ty D tạm ứng kể từ ngày ứng tiền đến ngày chốt cộng thêm 200.000 đồng/tấn phí lưu kho cho Công ty D. Trong trường hợp Công ty D không còn cà phê để trả lại thì Công ty T1 yêu cầu Công ty D phải bồi thường thiệt hại là số tiền tương đương với 215.613 kg cà phê theo giá cà phê tại thời điểm xét xử.
Bị đơn là Công ty CP D có người đại diện hợp pháp là ông Võ Thái H trình bày:
Ông H xác định mọi hoạt động kinh doanh của Công ty D là do ông Lê Hải B thực hiện, ông hoàn toàn không biết nội dung cụ thể. Ông không có ý kiến và không có tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án để nộp. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, hòa giải và xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- + Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Công ty TNHH T1 khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán và gửi giữ hàng hóa đối với bị đơn Công ty CP D có trụ sở tại quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự:
Do các bên đương sự xin vắng mặt nên căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ Điều III của các Hợp đồng kinh tế thì Công ty T1 có quyền lấy lại lô hàng đã gửi cho Công ty D, nhưng phải thanh toán cho Công ty D khoản chiết khấu thanh toán là 0,8%/tháng trên số tiền Công ty D đã tạm ứng kể từ ngày ứng tiền cho đến ngày chốt giá cộng thêm 200.000 đồng/tấn phí lưu kho cho Công ty D. Công ty T1 đã gửi thông báo chốt giá vào các ngày 15/4/2020, ngày 20/4/2020 và ngày 25/4/2020 tuy nhiên Công ty D đã không chốt giá và bán lô hàng cà phê nên Công ty T1 có quyền lấy lại 215.613 kg cà phê hiện đang ký gửi cho Công ty D theo như thỏa thuận tại các Hợp đồng kinh tế.
Hội đồng xét xử nhận thấy, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/9/2020 tại kho Đ - Chi nhánh Công ty TNHH T2 (sau đây gọi tắt là Công ty T2) có nội dung Công ty T2 và Công ty D có ký hợp đồng dịch vụ giao nhận hàng. Công ty T2 có trách nhiệm nhận, giữ hàng và chuyển hàng là mặt hàng cà phê cho Công ty D. Hiện nay tại kho của Công ty T2 không còn mặt hàng cà phê của Công ty D.
Căn cứ khoản 4 Điều 557 Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ của bên giữ tài sản phải bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng; do đó có cơ sở chấp nhận việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả lại 215.613 kg đã ký gửi theo các hợp đồng trên, trong trường hợp Công ty D không còn cà phê để trả lại thì Công ty T1 đề nghị Công ty D phải bồi thường thiệt hại là số tiền tương đương với 215.613 kg cà phê theo giá cà phê tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
Căn cứ Công văn số 6928/BCT-TTTN ngày 17/9/2020 của Bộ C, Công văn số 181/QLG-NLTS ngày 29/9/2020 của Cục Q, Công văn số 405/TCKH ngày 01/9/2020 của Phòng Tài chính - Kế hoạch quận P có nội dung theo quy định của Luật giá mặt hàng cà phê Robusta không thuộc danh mục hàng hóa dịch vụ Nhà nước thực hiện quản lý giá. Căn cứ khoản 4 Điều 4 Luật giá quy định: “Giá thị trường là giá hàng hóa, dịch vụ hình thành do các nhân tố chi phối và vận động của thị trường quyết định tại một thời điểm, địa điểm nhất định” nên giá cà phê R được xác định theo giá thị trường.
Căn cứ Công văn số 46/HHCPCC-2022 ngày 23/5/2022 có nội dung H3 không quản lý giá cà phê Robusta. Giá cà phê giao dịch giữa các doanh nghiệp do các doanh nghiệp tự thỏa thuận trên cơ sở giá thị trường cà phê theo từng ngày giao dịch. Vì vậy, có cơ sở buộc Công ty D phải bồi thường thiệt hại là số tiền tương đương với 215.613 kg cà phê theo giá cà phê tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 215.613 kg x 64.500 đồng =
13.907.038.500 đồng (theo giá cà phê được niêm yết tại https://giacaphe.com/gia-ca-phe-noi-dia/).
Hội đồng xét xử xét thấy Công ty T1 Huy Hoàng Lâm H1 đồng ý thanh toán cho Công ty D phí lưu kho là 43.122.600 đồng (215,613 tấn cà phê x 200.000 đồng/tấn) và trả cho Công ty D khoản chiết khấu thanh toán là 0.8%/tháng (tương đương 0.026%/ngày) trên số tiền tạm ứng 4.878.556.760 đồng kể từ ngày ứng tiền cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.656.890.672 đồng. Cụ thể:
- - Khoản chiết khấu thanh toán của số tiền tạm ứng 912.800.000 đồng tính từ ngày 10/01/2020 đến 18/8/2023 là 308.599.424 đồng (912.800.000 đồng x 42 tháng 8 ngày x 0,8%/tháng).
- - Khoản chiết khấu thanh toán của số tiền tạm ứng 1.814.400.000 đồng tính từ ngày 14/01/2020 đến 18/8/2023 là 616.242.816 đồng (1.814.400.000 đồng x 42 tháng 14 ngày x 0,8%/tháng).
- - Khoản chiết khấu thanh toán của số tiền tạm ứng 1.103.176.200 đồng tính từ ngày 16/01/2020 đến 18/8/2023 là 375.256.415 đồng (1.103.176.200 đồng x 42 tháng 16 ngày x 0,8%/tháng).
- - Khoản chiết khấu thanh toán của số tiền tạm ứng 900.000.000 đồng tính từ ngày 17/01/2020 đến 18/8/2023 là 306.378.000 đồng (900.000.000 đồng x 42 tháng 17 ngày x 0,8%/tháng).
- - Khoản chiết khấu thanh toán của số tiền tạm ứng 147.980.560 đồng tính từ ngày 18/01/2020 đến 18/8/2023 là 50.414.017 đồng (147.987.560 đồng x 42 tháng 18 ngày x 0,8%/tháng).
Như vậy số tiền bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn là 7.328.468.468 đồng (13.907.038.500 đồng - 4.878.556.760 đồng tiền tạm ứng - 1.656.890.672 đồng lãi chiết khấu thanh toán - 43.122.600 đồng phí lưu kho)
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH T1 được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn Công ty CP D phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 52 Luật Thương mại năm 2005;
Căn cứ Điều 117, Điều 554, khoản 4 Điều 557 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Căn cứ Điều 11 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH T1.
- Về án phí:
- Về nghĩa vụ thi hành án:
- Về quyền kháng cáo:
Buộc Công ty CP D phải trả cho Công ty TNHH T1 số tiền 7.328.468.468 (Bảy tỷ ba trăm hai mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi tám ngàn bốn trăm bốn mươi tám) đồng.
Công ty CP D phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 115.328.468 (Một trăm mười lăm triệu ba trăm hai mươi tám ngàn bốn trăm sáu mươi tám) đồng.
- Hoàn lại cho Công ty TNHH T1 31.465.000 (Ba mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0042715 ngày 04/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kể từ ngày Công ty TNHH T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty CP D không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng Công ty CP D còn phải trả tiền lãi cho Công ty TNHH T1 trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Út |
Bản án số 650/2023/KDTM-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng gửi giữ hàng hóa
- Số bản án: 650/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng gửi giữ hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng gửi giữ hàng hóa
