Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Sang;

Bà Thi Thị Thanh Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh: Ông Nguyễn Hoàng Phúc Đức, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 273/2024/TLST- HNGĐ, ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024; giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị C, sinh năm 1985 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Phạm Hoàng M, sinh năm 1982 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị C trình bày:

Chị và anh Phạm Hoàng M do quen biết, tìm hiểu nhau thì tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ hạnh cho đến khoảng tháng 5 năm 2023 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh M không chí thú làm ăn, ăn chơi phung phí, không chăm lo cuộc sống gia đình. Chị đã cho anh M nhiều cơ hội nhưng anh M không khắc phục. Hiện tại chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, tiếp tục sống chung không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Hoàng M.

Về con chung: Chị và anh Phạm Hoàng M có 02 người con chung gồm:

  • - Phạm Hoàng T, sinh ngày 29/02/2004 đã thành niên có cuộc sống riêng.
  • - Phạm Thị Thùy S, sinh ngày 09/6/2013; hiện tại cháu Phạm Thị Thùy S đang sống chung với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được quyền nuôi cháu Phạm Thị Thùy S, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Phạm Hoàng M được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, không có bản tự khai, lời trình bày.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Đặng Thị C vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện; bị đơn anh Phạm Hoàng M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp, chứng cứ do Tòa án thu thập. Trên cơ sở các lời khai và chứng cứ có trong hồ sơ; vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho chị Đặng Thị C được ly hôn với anh Phạm Hoàng M.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao Phạm Thị Thùy S, sinh ngày 09/6/2013 cho chị C được quyền nuôi cháu Phạm Thị Thùy S theo nguyện vọng của cháu S, do chị C không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Phạm Hoàng T, sinh ngày 29/02/2004 đã thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử không cam xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị C trình bày không có nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Hoàng M, yêu cầu được nuôi con chung nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có địa chỉ tại xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên căn Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý, Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 196, 208, 209, 210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng bị đơn anh Phạm Hoàng M đều vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không hòa giải được theo quy định. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị C có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Phạm Hoàng M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[3] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Anh Phạm Hoàng M và chị Đặng Thị C tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện B, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 14/11/2012, đây là việc kết hôn hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình sống chung, chị C cho rằng vợ chồng chị có hạnh phúc được thời gian đầu nhưng sau đó khoảng tháng 5/2022 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh M không chí thú làm ăn, ăn chơi phung phí, không chăm lo cuộc sống gia đình, vợ chồng không còn hạnh phúc.

Xét yêu cầu ly hôn của chị C cũng như quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận. Ngoài chứng cứ là lời khai, lời trình bày của chị C, Toà án đã tiến hành xác minh bà Đặng Thị T1 là cô của chị C (Bút lục 21), bà T1 cho biết sau khi cưới thì vợ chông chị C sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó do anh M thường xuyên ăn nhậu, không chí thú làm ăn nên vợ chồng thường xuyên cự cải, bà có khuyên can anh M sửa đổi để vợ chồng hạnh phúc, nhưng anh M không thay đổi.

Xét thấy, trong thời gian ly thân cho đến nay, chị C và anh M vẫn không thể hàn gắn lại được, vợ chồng đã bỏ mặt nhau, không còn quan tâm nhau nữa. Tòa án đã mời các bên hòa giải nhưng không hòa giải được. Đối với bị đơn anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến hòa giải và xét xử nhưng anh M đều vắng mặt không lý do và không có văn bản thể hiện ý kiến phản bác đối với yêu cầu xin ly hôn của chị C. Như vậy, anh M đã bỏ mặt, không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh với chị C, thể hiện anh M không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị C.

Từ nhận định, phân tích trên có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị C với anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị C được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị C và anh Phạm Hoàng M có 02 người con chung gồm:

  • - Phạm Hoàng T, sinh ngày 29/02/2004, chị C trình bày Phạm Hoàng T đã thành niên có cuộc sống riêng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Phạm Thị Thùy S, sinh ngày 09/6/2013; hiện tại cháu Phạm Thị Thùy S đang sống chung với chị, sau khi ly hôn chị C yêu cầu được quyền nuôi cháu Phạm Thị Thùy S, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung, anh M không có ý kiến phản đối nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C giao cháu Phạm Thị Thùy S cho chị C được quyền nuôi con theo nguyện vọng của cháu S, do chị C không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, về nợ chung: Chị C trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Đặng Thị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, 57 các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị C.

- Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị C được ly hôn với anh Phạm Hoàng M.

- Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Thùy S, sinh ngày 09/6/2013 cho chị Đặng Thị C được quyền nuôi con. Do chị C không yêu cầu anh Phạm Hoàng M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Phạm Hoàng M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị C trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí sơ thẩm: Chị Đặng Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000697 ngày 20/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ hoặc niêm yết nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - THADS huyện Châu Thành;
  • - UBND xã Long Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger