Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 – 7 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU – TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Minh Sơn
  2. Ông Lê Trường Hận

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lý Mộng T, sinh năm 2004. Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
  2. Bị đơn: Anh Trương Thanh T1, sinh năm 2002. Địa chỉ: Số B, khóm T, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lý Mộng T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh T1 tự nguyện sống chung từ tháng 02/2021, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Chị và anh T1 đã ly thân từ khoảng tháng 6/2022 đến nay do vợ chồng sống chung không hợp nhau. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Chị và anh T1 có 01 người con chung là Lý Uy V, sinh ngày 30/11/2021, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Trương Thanh T1 trình bày:

Về hôn nhân: Anh trình bày thống nhất với lời khai của chị T về thời gian sống chung, không đăng ký kết hôn và ly thân. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị T có một người con chung như chị T trình bày là đúng. Anh đồng ý giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng con chung và anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu ý kiến:

  • - Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

  • - Về nội dung vụ án:

    • + Về hôn nhân: Căn cứ Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận chị T và anh T1 là vợ chồng.

    • + Về con chung: Giao cháu Lý Uy V, sinh ngày 30/11/2021 cho chị T trông nom, chăm sóc và giáo dục. Anh T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    • + Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lý Uy V, sinh ngày 30/11/2021 với mức cấp dưỡng là 2.205.000 đồng/tháng cho đến khi cháu V tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 30/7/2024.

    • + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

    • + Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng. Anh T1 phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T1, anh T1 đang cư trú trên địa bàn thành phố B nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Chị T và anh T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị T và anh T1 là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Xét thấy chị T và anh T1 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nhưng chị T và anh T1 chung sống với nhau như vợ chồng và đã có con chung mà không đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa chị T và anh T1 là không hợp pháp, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng. Nay chị T yêu cầu ly hôn, căn cứ theo khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh T1.

[4] Về con chung: Chị T và anh T1 thống nhất có một người con chung là Lý Uy V, sinh ngày 30/11/2021, hiện đang sống chung với chị T. Xét thấy, cháu V dưới 36 tháng tuổi và sống cùng với chị T từ khi ly thân đến nay, hiện cháu V phát triển tốt, chị T có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Mặt khác, nay Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung thì anh T1 đồng ý. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu V, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T: Giao cháu Lý Uy V, sinh ngày 30/11/2021 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng: Xét thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Vì vậy, chị T yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật là có căn cứ và anh T1 cũng đồng ý nên được chấp nhận. Theo quy định pháp luật thì mức cấp dưỡng mỗi tháng không thấp hơn một nữa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú, anh T1 đang cư trú trên địa bàn thành phố B, tỉnh Bạc Liêu là thuộc vùng II với mức lương tối thiểu là 4.410.000 đồng/tháng. Do đó, buộc anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lý Uy V, sinh ngày 30/11/2021 với mức cấp dưỡng là 2.205.000 đồng /tháng cho đến khi cháu V tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 30/7/2024).

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh T1 phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 14, 53, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lý Mộng T và anh Trương Văn T2.

  2. Về con chung: Giao cháu Lý Uy V, sinh ngày 30/11/2021 cho chị L Mộng Thảo được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trương Thanh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng: Buộc anh Trương Thanh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lý Uy V, sinh ngày 30/11/2021 với mức cấp dưỡng là 2.205.000 đồng/tháng cho đến khi cháu V tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 30/7/2024.

  3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

  4. Về án phí: Chị Lý Mộng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị T đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002822 ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên được chuyển sang thu án phí. Anh Trương Thanh T1 phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.

  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Bạc Liêu;
  • - Chi cục THADS thành phố Bạc Liêu;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Yến Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU – TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lý Mộng T yêu cầu ly hôn với anh Trương Thanh T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger