|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày 29 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đàm Thiếu Phương;
Bà Hoàng Thị Quy.
- Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Ngọc Văn T, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1995, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngọc Văn X và bà Chu Thị T1 (đều đã chết); vợ, con chưa có; tiền sự: Không có; tiền án: Ngày 14/02/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; nhân thân: Ngày 16/12/2020 bị Ủy ban nhân dân xã Q áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 19/9/2024 đến nay, có mặt.
- Người làm chứng:
2
- Anh Đinh Văn T2, sinh năm 1995, vắng mặt;
- Anh Mai Hữu N, sinh năm 1992, vắng mặt;
- Anh Nông Văn T3, sinh năm 1986, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 00 phút ngày 19/9/2024, Công an huyện T phối hợp đồn Biên phòng Pò Mã - Bộ đội Biên phòng L triệu tập Ngọc Văn T để xét nghiệm ma túy thì phát hiện tại đầu giường ngủ của T có nhiêu xilanh, nước cất đã qua sử dụng. Lúc này, T tự nguyện giao nộp 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy kẻ ô ly và khai nhận chất bột màu trắng là chất ma túy Heroin để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng gồm: 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy trắng kẻ ô ly; Số tiền 980.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu xám, số IMEI: 355899067717286, không lắp sim, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme màu đen, số IMEI: 860936061446765/60, lắp 02 sim thuê bao số 0878.501.873 và 0335.424.095, máy cũ đã qua sử dụng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngọc Văn T, phát hiện và thu giữ: 01 chiếc kéo kim loại có cán bằng nhựa màu vàng; 01 mảnh giấy trắng kẻ ô ly diện 22cmx 10cm; 02 xi lanh đã qua sử dụng; 02 vỏ đựng nước cất đã qua sử dụng; 01 ống hút bằng nhựa màu tím có một đầu cắt vát đã qua sử dụng.
Ngọc Văn T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 18/9/2024, T một mình đón xe khách đi đến chợ Đ thuộc thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời. T mua được với một người đàn ông lạ mặt làm nghề xe ôm 01 gói ma túy Heroin với giá 1.000.000 đồng, sau đó bắt xe khách về nhà, chia ma túy mua được thành 08 gói nhỏ gói bằng giấy trắng kẻ ô ly, rồi tự mình sử dụng hết 02 gói bằng hình thức chích. Đến khoảng 08 giờ ngày 19/9/2024, khi T đang ở nhà thì có Đinh Văn T2 gọi điện hỏi mua ma túy thì được T đồng ý. Khoảng 08 giờ 20 phút, tại buồng ngủ nhà mình, T đã bán cho T2 01 gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng, T2 hỏi T xin sử dụng ma túy tại phòng ngủ của T, thì được T đồng ý, T2 lấy kim tiêm và nước cất tự mang theo sử dụng hết gói ma túy vừa mua được bằng hình thức chích, còn T cũng mang 02 gói ma túy Heroin ra tự mình sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/9/2024, Nông Văn T3 đến nhà hỏi mua ma túy thì được T bán cho 01 gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng, T3 đem về tự sử dụng hết. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Mai Hữu N gọi điện thoại hỏi mua ma túy thì được T đồng ý, khoảng 20 phút sau khi N đến, T bán cho N 01 gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng, mua được ma túy N đem về tự sử dụng hết. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi T đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện và bắt quả tang.
3
Tại Kết luận giám định số 995/KL-KTHS ngày 21/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Chất bột màu trắng dựng trong 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly, được niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ "Tang vật nghi ma túy thu giữ khi bắt quả tang đối với Ngọc Văn T ngày 19/9/2024" gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng là 0,152 gam (đã trừ bì).
Tại kết luận giám định số 1017/KL-KTHS, ngày 27/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Số tiền 980.000 đồng thu giữ của Ngọc Văn T gửi giám định đều là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKSTĐ ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Ngọc Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, thừa nhận số tiền bị thu giữ vừa là tiền bán ma túy có, vừa là tiền của bản thân. Điện thoại bị thu giữ có 01 điện thoại dùng để sử dụng mục đích cá nhân, còn 01 điện thoại Realme màu đen dùng để liên lạc mua bán ma túy. Công bố lời khai của những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đều được bị cáo thừa nhận là đúng.
Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngọc Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 và đề nghị áp dụng thêm Điều 38, Điều 50, Điều 55, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngọc Văn T từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; từ 2 năm đến 3 năm tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt chung cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy bị thu giữ và vật chứng không có giá trị sử dụng; tịch thu, hóa giá sung ngân sách nhà nước số tiền, điện thoại của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội; trả lại cho bị cáo điện thoại và số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về tái hòa nhập cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.
[3] Xét lời khai nhận thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đã 03 lần bán trái phép chất ma túy cho cho Đinh Văn T2, Nông Văn T3 và Mai Hữu N. Ngoài ra, bị cáo còn cho Đinh Văn T2 sử dụng ma túy tại phòng ngủ của mình 01 lần. Những hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo và để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nghiêm trọng với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, bị cáo phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt; về tình tiết tăng nặng, bị cáo có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, do đó lần phạm tội này được xác định là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; về nhân thân: xấu, bị cáo từng bị Ủy ban nhân dân xã Q áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng từ ngày 16/12/2020. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, vừa đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, là người nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vật chứng không có giá trị sử dụng; tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước số tiền 600.000 đồng và chiếc điện thoại di động màn
5
hình cảm ứng nhãn hiệu Realme màu đen liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo số tiền 380.000 đồng và chiếc điện thoại Iphone màu xám không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
[7] Đối với người đàn ông đã bán chất ma túy cho Ngọc Văn T tại khu vực chợ thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, do không xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
[8] Đối với Đinh Văn T2, Nông Văn T3, Mai Hữu Nghĩa là người đã mua ma túy với Ngọc Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 và khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng thêm Điều 38, Điều 50, Điều 55, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngọc Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngọc Văn T 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 09 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy hoàn lại sau giám định có đóng dấu và ký tên theo quy định, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,134 gam Heroin và vỏ bao gói (cũ); 01 kéo kim loại có cán bằng nhựa màu vàng, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) mảnh giấy trắng kẻ ô ly diện 22x10cm; 01 (một) xi lanh chưa qua sử dụng; 02 (hai) xi lanh đã qua sử dụng; 02 (hai) vỏ đựng nước cất đã qua sử dụng; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu tím có đầu cắt vát đã qua sử dụng.
6
3.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tịch thu số tiền 600.000 đồng thu giữ của Ngọc Văn T (năm trong số tiền 980.000 đồng bị thu giữ); 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme màu đen, số IMEI: 860936061446765/60, lắp 02 (hai) sim thuê bao số 0878.501.873 và 0335.424.095, máy cũ đã qua sử dụng.
3.3 Trả lại cho bị cáo: Số tiền 380.000 đồng (nằm trong số tiền 980.000 đồng bị thu giữ) nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu xám, mặt trước bị nứt vỡ, số IMEI: 355899067717286, không lắp sim, máy cũ đã qua sử dụng
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Ngọc Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngọc Văn T - Mua bán, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
