Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024 /HSST

Ngày: 29/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh

2. Bà Vũ Thị Lệ

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lăng Văn X, tên gọi khác: Không, sinh ngày 15/7/1973

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: xóm G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 2/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Lăng Văn B (đã chết); Con bà: Hoàng Thị Đ (đã chết), Bị cáo có 06 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ năm và có 6 anh em cùng cha khác mẹ. Có vợ Hoàng Thị Đ1, sinh năm 1975, vợ chồng có 02 con chung, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2004.

Tiền án: Năm 1997, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 48 tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” tại bản án Hình sự sơ thẩm số 31/HSST ngày 29/7/1997.

Tiền sự: không .

Nhân thân: Năm 2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án Hình sự sơ thẩm số 312/HSST ngày 21/12/2005.

1

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/4/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)

* Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư Triệu Quốc B1 – Văn phòng L1 – Đoàn Luật sư tỉnh T; (Có mặt)

* Bị hại: Anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1976; (Có mặt)

Trú tại: Xóm U, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị Đ1, sinh năm 1975

Trú tại: xóm G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; (Có mặt)

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1982; (Có mặt)

    Trú tại: Xóm U, xã Tân Hòa, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

  2. Anh Hứa Văn T1, sinh năm 1993; (Vắng mặt)

    Trú tại: xóm G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  3. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1999; (Vắng mặt)

    Trú tại: xóm G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  4. Chị Hứa Thị L, sinh năm 1978; (Vắng mặt)

    Trú tại: xóm G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  5. Anh Hoàng Văn B2, sinh năm 1998; (Vắng mặt)

    Trú tại: xóm G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

  6. Chị Lăng Thị A, sinh năm 2003; (Có mặt)

    Trú tại: xóm N, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 06/5/2021, ông Nguyễn Tiến Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 20L4-1682 đi từ nhà sang xã T, huyện P để bẫy chim. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc xóm G, xã T, ông Q gặp Lăng Văn X đang đi trên đường, vác trên vai một đoạn gậy gỗ keo dài 1,7 mét, đường kính đầu to 7,5 cm, đầu nhỏ 5,5 cm, phần cuối đầu nhỏ tách thành 2 nhánh. Khi ông Q điều khiển xe mô tô đi vượt qua Xoan thì bị X cầm gậy gỗ bằng hai tay đánh từ phía sau trúng vào vùng đầu sau gáy làm ông Q và xe mô tô

2

bị ngã, đổ xuống đường, khi ông Q đang nằm trên mặt đường bê tông, X dùng hai tay cầm gậy đánh theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng mặt bên trái ông Q khiến ông Q bị ngất rồi X cầm gậy gỗ đi về nhà. Ông Q được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Sự việc được trình báo đến Công an xã T và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.

Hậu quả: ông Q bị 01 vết thương vùng cung mày bên trái dài 03 cm bờ nham nhở, vùng trán có vết trầy xước, vùng mắt trái sưng nề bầm tím, gò má sưng nề có nhiều vết trầy xước, kết quả chụp cắt lớp vi tính sọ não: gãy thành trước và sau xoang hàm trái, gẫy cung tiếp và thành ngoài ổ mắt trái. Sau khi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2, cùng ngày chuyển đến Bệnh viện Đ3 điều trị đến ngày 11/5/2021 ra viện. Ngày 18/5/2021, ông Q đã có đơn trình báo, đề nghị xử lý đối với Lăng Văn X về hành vi đánh ông gây thương tích.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của ông Nguyễn Tiến Q và trưng cầu giám định ADN của mẫu máu thu tại hiện trường so với ADN của ông Q.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 540/TgT ngày 05/8/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với ông Nguyễn Tiến Q kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Gãy cung tiếp gò má (T); gãy thành ngoài ổ mắt (T); gãy thành trước và sau xoang hàm (T); hiện tại có 02 sẹo phần mềm vùng mặt KT nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 24% (Hai mươi bốn phần trăm). Áp dụng theo phương pháp tính theo Thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y. Cơ chế hình thành các thương tích: Do tác động của vật tày. Tại bản kết luận giám định pháp y về ADN số 56/22/TC-ADN ngày 17/01/2022 của V kết luận: ADN thu từ dấu vết màu nâu đỏ thu tại hiện trường trùng khớp hoàn toàn với ADN của ông Nguyễn Tiến Q

Đối với Lăng Văn X, sau khi sự việc xảy ra, X có biểu hiện của bệnh tâm thần nên được gia đình đưa đến Bệnh viện Đ3 khám và điều trị từ ngày 06/5/2021 đến ngày 01/6/2021, kết luận khi ra viện: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu.

Qua xác minh tại gia đình và địa phương nơi Xoan cư trú, trước thời điểm thực hiện hành vi đánh ông Q gây thương tích ngày 06/5/2021, Lăng Văn X là người thường xuyên sử dụng rượu và có biểu hiện không bình thường như toát mồ hôi, sốt, chân tay co quắp, hay nói nhảm, mê sảng khi ngủ, coi con người là động vật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định trưng cầu giám định pháp y về tâm thần đối với X. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 25/KLGĐ ngày 15/01/2022 của V1 kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định đối tượng Lăng Văn X bị rối loạn loạn thần do sử

3

dụng rượu. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.5. Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bệnh ở giai đoạn nặng, đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tại thời điểm giám định bệnh ở giai đoạn thuyên giảm, đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Lăng Văn X. Sau khi kết thúc bắt buộc chữa bệnh, ngày 11/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của Lăng Văn X.

Tại Bản kết luận giám định sức khỏe tâm thần sau điều trị bắt buộc chữa bệnh số 12/KLGÐSKTT-SBBCB ngày 22/3/2024 của V1 kết luận: “Hiện tại bệnh tâm thần của bệnh nhân Lăng Văn X ở giai đoạn khỏi bệnh. Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lăng Văn X khai nhận: Bản thân là người thường hay sử dụng rượu, sáng ngày 06/5/2021, khi ngủ dậy Xoan thấy trong người bức xúc, cảm giác như có người tấn công mình, X lấy một đoạn gậy gỗ keo có đặc điểm như trên trong vườn nhà để đuổi theo người tấn công mình. X cầm gậy chạy ra đường bê tông, đến nhà văn hóa xóm G, xã T thì quay lại rồi cầm gậy đi về hướng nhà mình. Khi đang đi, X nhìn thấy ông Q điều khiển xe mô tô đi trên đường. Xoan biết ông Q từ trước và không có mâu thuẫn với ông Q, tuy nhiên hình ảnh của ông Q trong nhận thức của X không rõ ràng, khi là người, khi là động vật nên khi ông Q vừa điều khiển xe mô tô đi qua X dùng gậy gỗ đánh ông Q một phát làm ông Q ngã xuống đường, X tiếp tục dùng gậy đánh ông Q phát thứ hai với mục đích để ông Q hiện nguyên hình, thấy ông Q nằm trên đường X cầm gậy đi về nhà.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 đoạn gậy gỗ keo dài 170 cm, đường kính đầu to 7,5 cm, đường kính đầu nhỏ 5,5 cm, đầu nhỏ tách thành hai nhánh, niêm phong trong thùng bìa cát tông ký hiệu A; dấu vết vật chất màu nâu đỏ dính trên lá cây khô, niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu V56M-22 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của cơ quan thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Vợ bị cáo là Hoàng Thị Đ1 đã bồi thường cho người bị hại là ông Q số tiền 11.000.000 đồng, ông Q đề nghị X phải bồi thường thêm cho ông Q số tiền 50.000.000 đồng, đến nay X chưa bồi thường thêm cho ông Q.

Tại bản Cáo trạng số 65/CT - VKSPB ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố Lăng Văn X về tội: Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015.

4

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lăng Văn X phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 13, Điều 38 BLHS Xử phạt: Lăng Văn X từ 36 đến 42 tháng tù.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gậy gỗ keo dài 170 cm, đường kính đầu to 7,5 cm, đường kính đầu nhỏ 5,5 cm, đầu nhỏ tách thành hai nhánh, niêm phong trong thùng bìa cát tông ký hiệu A; dấu vết vật chất màu nâu đỏ dính trên lá cây khô, niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu V56M-22

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại theo quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST, án phí DSST và được kháng cáo theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận, luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Nhất trí với tội danh và điều luật Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.

Về nguyên nhân phạm tội: Do bị cáo bị rối loạn, loạn thần do sử dụng rượu dẫn đến mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên đã phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự vì 02 bản án bị cáo bị xét xử đã được xóa án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng: Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, q, s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất của khung hình phạt.

Bị cáo nhất trí với ý kiến bào chữa của luật sư, không có ý kiến gì khác, thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với ý kiến tranh luận của luật sư:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự vì bản án số 31/1997/ HSST ngày 29/7/1997 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình bị cáo chưa thi hành khoản tiền bồi thường cho bị hại, như vậy là chưa chấp hành xong toàn bộ bản án nên chưa được xóa án tích. Về tình tiết giảm nhẹ: Đối với số tiền bồi thường cho bị hại 11.000.000₫ là do vợ bị cáo tự bồi thường, bị cáo không tác động hoặc nhờ gia đình bồi thường do vậy không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm

5

b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Luật sư bào chữa và bị cáo nhất trí, không có ý kiến đối đáp lại với ý kiến của đại diện VKS.

Tại lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Lăng Văn X đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Lăng Văn X là đối tượng thường xuyên sử dụng rượu hàng ngày, trong sinh hoạt có biểu hiện nói nhảm, coi con người là động vật. Vào khoảng 7 giờ ngày 06/5/2021, do xuất hiện ảo giác trong đầu, cảm giác đang có người thấn công mình nên bị cáo đã dùng gậy gỗ keo đi lại trên đường để tìm người đó. Khi phát hiện thấy ông Q điều khiển xe mô tô đi về phía bị cáo, hình ảnh ông Q trong nhận thức của bị cáo khi là người, khi là động vật nên bị cáo dùng gậy gỗ trên (là hung khí nguy hiểm) đánh 02 nhát vào vùng đầu, mặt của ông Q. Hậu quả ông Q bị thương tích đa chấn thương hàm mặt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định của ông Q24%.

Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo có biểu hiện của bệnh tâm thần nên được gia đình đưa đến Bệnh viện Đ3 khám và điều trị từ ngày 06/5/2021 đến ngày 01/6/2021, kết luận khi ra viện: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu. Theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 25/KLGĐ ngày 15/01/2022 của V1 đối với bị cáo đã kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định đối tượng Lăng Văn X bị rối loạn loạn thần do sử

6

rượu. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.5. Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bệnh ở giai đoạn nặng, đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Tuy nhiên tại Điều 13 Bộ luật hình sự quy định “ người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cụ thể điều luật quy định như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm ...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...”

[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng:

Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm tới sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ được tác hại của việc sử dụng rượu thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng cố tình sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, và đã dẫn đến hậu quả là gây thương tích cho người khác. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại các điểm q và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

7

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 31/1997/ HSST ngày 29/7/1997 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên bị cáo chưa thi hành khoản tiền bồi thường cho bị hại, như vậy là chưa chấp hành xong toàn bộ bản án nên chưa được xóa án tích. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử về cùng một loại tội cố ý gây thương tích, là những tình tiết về nhân thân được xem xét khi Hội đồng xét xử lượng hình đối với bị cáo.

[5]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo xuất thân từ người lao động nhưng không chịu khó làm ăn. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử bởi 02 bản án về cùng một loại tội, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để thay đổi tâm tính, trái lại có lối sống không lành mạnh, thường xuyên sử dụng rượu dẫn đến mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo đã được áp dụng biện pháp chữa bệnh và theo Bản kết luận giám định sức khỏe tâm thần sau điều trị bắt buộc chữa bệnh số 12/KLGÐSKTT-SBBCB ngày 22/3/2024 của V1 kết luận: “Hiện tại bệnh tâm thần của bệnh nhân Lăng Văn X ở giai đoạn khỏi bệnh. Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”. Do vậy để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định để giáo dục bị cáo trở thành một người công dân tốt, chấp hành pháp luật. Mức án mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại ông Nguyễn Tiến Q yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thuơng tích khoảng 70.000.000đ. Bị cáo và gia đình đã thực hiện việc bồi thường số tiền 11.000.000đ. Ông Q yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 50.000.000đ. Bị cáo chưa thực hiện việc bồi thường số tiền trên cho ông Q. Tại phiên tòa, ông Q giữ nguyên yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 50.000.000đ, bị cáo không nhất trí bồi thường. Do các bên không thống nhất được số tiền bồi thường, Hội đồng xét xử xem xét các chi phí hợp lý theo quy định pháp luật, cụ thể như sau:

  • Tiền viện phí (từ 06/5/2011 đến 11/5/2021): 9.062.228₫
  • Tiền viện phí ngoại trú: 922.000₫
  • Thanh toán bộ nẹp vít tự tiêu 8 lỗ: 16.500.000₫
  • Tiền thuốc (02 hóa đơn) : 409.000đ + 615.000₫ = 1.024.000₫
  • Tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện (06 ngày). Ông Q làm thợ xây, mức thu nhập bình quân 300.000đ/ngày x 6 ngày= 1.800.000₫

8

  • Tiền mất thu nhập của người chăm sóc (01 người). Mức thu nhập bình quân 300.000đ/ngày x 6 ngày= 1.800.000₫
  • Tiền tổn thất tinh thần: 10 tháng lương cơ sở x 2.340.000đ= 23.340.000₫
  • Tổng cộng các khoản: 54.448.000đ ( năm mươi bốn triệu bốn trăm bốn tám nghìn đồng - đã làm tròn số).

Gia đình bị cáo đã thực hiện bồi thường số tiền 11.000.000đ. Tại phiên tòa, bà Đ1 xác định tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo, do vậy bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền: 43.448.000đ (Bốn mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

[7]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 đoạn gậy gỗ keo dài 170 cm, đường kính đầu to 7,5 cm, đường kính đầu nhỏ 5,5 cm, đầu nhỏ tách thành hai nhánh, niêm phong trong thùng bìa cát tông ký hiệu A; dấu vết vật chất màu nâu đỏ dính trên lá cây khô, niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu V56M-22 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST và 2.172.400đ án phí dân sự sơ thẩm sung Ngân sách nhà nước.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Lăng Văn X phạm tội : “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng: Điểm đ khoản 2, Điều 134; Điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 13; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Xử phạt: bị cáo Lăng Văn X 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 09/4/2024.

Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Hội đồng xét xét Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 48 Bộ luật Hình sự, Điều 585, 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại Nguyễn Tiến Q tổng số tiền 54.448.000đ (năm mươi bốn triệu bốn trăm bốn tám nghìn đồng). Đã thực hiện bồi thường số tiền 11.000.000đ. Bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho anh Nguyễn Tiến Q số tiền: 43.448.000₫ (Bốn mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

9

Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gậy gỗ keo dài 170 cm, đường kính đầu to 7,5 cm, đường kính đầu nhỏ 5,5 cm, đầu nhỏ tách thành hai nhánh, niêm phong trong thùng bìa cát tông ký hiệu A; dấu vết vật chất màu nâu đỏ dính trên lá cây khô, niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu V56M-22.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.172.400 đ (Hai triệu một trăm bảy mươi hai nghìn bốn trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Quyền kháng cáo:Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a,7b,9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh TN;
  • - VKS nhân dân huyện Phú Bình;
  • - Tòa án tỉnh TN;
  • - Công an huyện Phú Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Phú Bình;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hà

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024 /HSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 65/2024 /HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tCố ý gây thương tíchích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger